Sinh viên: Nguyễn Thị Phương Thảo Mã số sinh viên: 2151070045 Lớp GDQP & AN: 14 Lớp: TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ K HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TỔ GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH ------------------------------ TIỂU LUẬN HP2 ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Hà Nội, tháng 12 năm 2021 MỤC LỤC
Sáng 11/10, trên các trang mạng xã hội xuất hiện đoạn clip ghi lại sự việc một nhóm nam thanh niên khoảng 4-5 người đánh hội đồng một nam sinh tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Sau khi bị nhiều cú vụt bằng hung khí, nạn nhân đã bất tỉnh. Khu vực xảy ra vụ việc (Ảnh cắt từ clip).
Ở Việt Nam hiện nay, đạo đức sinh thái của sinh viên chưa được chú trọng giáo dục một cách độc lập trong các trường cao đẳng và đại học, mà chủ yếu thông qua các kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường lồng ghép trong các môn học khác nhau, nhằm hình
Tính nhân dân của báo chí thể hiện ở sự tham gia tích cực và thường xuyên của đông đảo nhân dân vào hoạt động báo chí. Lê-nin cho rằng: một số tờ báo sống được và trở nên sinh động khi nó có chừng 5 người viết và người biên tập chuyên nghiệp giỏi, nhưng đồng thời phải có năm trăm, thậm chí năm nghìn cộng tác viên không chuyên nghiệp.
Theo số liệu thống kê của Cục Hợp tác Quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện đang có khoảng chừng 190.000 du học sinh Việt Nam đang học tập, điều tra và nghiên cứu tại quốc tế . Các nước có nhiều du học sinh Việt Nam là Úc 30.000, Mỹ 29.000, Canada 21.000, Anh 12.000, Trung Quốc 11 Nghìn … Thống kê số lượng du học sinh việt nam tại các nước
Vay Tiền Nhanh. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN .............................................................. VŨ THỊ HƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết hoc ̣ Mã số 60220301 Người hướng dẫn khoa học Dương Văn Thịnh Hà nội - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Dương Văn Thịnh. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài là hoàn toàn trung thực. Học viên Vũ Thị Hương LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay”, ngoài sự cố gắng của bản thân, Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đóng góp ý kiến để em hoàn thành luận văn này! Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Dương Văn Thịnh, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học trong suốt quá trình em thực hiện đề tài. Mặc dù đã cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến để luận văn của được hoàn thiện hơn! Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2015 Học Viên Vũ Thị Hương MỤC LỤC MỞ ĐẦU..........................................................................................................1 1 Lý do chọn đề tài..........................................................................................1 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu................................................................ 3 3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................7 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................8 5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu................................................ 8 6 Đóng góp của luận văn.................................................................................9 7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn..................................................9 8 Kết cấu của luận văn....................................................................................9 NỘI DUNG.................................................................................................... 10 CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỐI SỐNG SINH VIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................................................10 Quan niệm về lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam........................ 10 Quan niệm về lối sống...........................................................................10 Quan niệm về lối sống sinh viên Việt Nam..........................................17 Quan niệm về toàn cầu hóa và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay................................................................27 Quan niệm về toàn cầu hóa..................................................................27 Biểu hiện về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay................................................................................................. 39 Tiểu kết chương I.......................................................................................... 48 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY..................49 Thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay.................................................................................................49 Ảnh hưởng tích cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam. ............................................................................................................................. 49 Ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên hiện nay .........................................................................................................................64 Một số giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam.......................74 Tiểu kết chương 2..........................................................................................80 KẾT LUẬN....................................................................................................82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................84 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á EU Liên minh Châu Âu GDP Tổng sản phẩm quốc nội OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế UNCTAD Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc NQ Nghị quyết NICs Các nước công nghiệp mới KOVA Học bổng Kova TƯ Trung ương FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Những năm gần đây, trên thế giới có nhiều biến động lớn. Một trong những biến động đó là toàn cầu hóa đang cuốn hút tất cả các nước trên thế giới. Đây là một xu thế tất yếu khách quan, hợp quy luật của thời đại mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài nếu không muốn bị tụt hậu. Toàn cầu hóa, một mặt đem lại cho tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển, những cơ hội lớn; mặt khác, nó cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Một trong những thách thức đáng lo ngại đó là sự phá vỡ những giá trị tinh thần truyền thống đã có từ lâu đời của các dân tộc, làm cho dân tộc này có thể bị hòa tan hay trở thành cái bóng của dân tộc khác, tức là đánh mất bản thân mình và đánh mất sức mạnh vốn có của chính dân tộc mình. Như vậy, toàn cầu hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của mọi quốc gia, trong đó có lối sống của con người. Việt Nam là nước có bề dày lịch sử lâu đời và đã trải qua nhiều sự biến động lớn. Cũng như tất cả các nước khác trên thế giới, để tồn tại và tiếp tục phát triển, Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy toàn cầu hóa. Trên con đường hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tranh thủ được nhiều thời cơ để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực; bên cạnh đó cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa những giá trị truyền thống vốn có từ bao đời nay của dân tộc, trong đó có sự thay đổi về lối sống. Trong những năm gần đây, một vấn đề rất được quan tâm là lối sống của sinh viên hiện nay. Giới trẻ, trong đó có sinh viên – đối tượng sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đổi mới với những biến đổi vô cùng nhanh chóng, cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần xã hội, đang là đối tượng nhạy cảm nhất trước những biến chuyển của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa vừa có ảnh hưởng tích cực vừa có ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh 1 viên hiện nay là rất cần thiết cho quá trình xây dựng nguồn nhân lực mới trong tình hình đất nước hội nhập. Nói đến sinh viên tức là nói đến thế hệ trẻ đang nắm trong tay những tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển của đất nước nói riêng. Sinh viên là một lực lượng không hề nhỏ, là lớp người trẻ được đào tạo toàn diện và đầy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, và tư duy… và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như chuyên ngành học, sự phân bố các trường, khu vực sinh sống và học tập… Tất cả những yếu tố đó đã hình thành nên lối sống của sinh viên. Lối sống sinh viên Việt Nam nhìn chung là đa dạng và phong phú. Xã hội phát triển càng cao, càng văn minh hiện đại, công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì sẽ mang lại nhiều thời cơ cũng như thách thức cho con người Việt Nam nói chung và cho sinh viên Việt Nam nói riêng. Khi mà các nền văn hóa đa dạng du nhập vào Việt Nam, có những điều tốt đẹp nhưng cũng có không ít những phản văn hóa không thích hợp với tư tưởng, với văn hóa của người phương Đông. Câu hỏi đặt ra là sinh viên sẽ thích ứng như thế nào với một môi trường mới? Họ sẽ chọn lọc những cái hay, cái đẹp phù hợp với bản thân hay học theo cái xấu không phù hợp để rồi dần dần đánh mất đi truyền thống dân tộc? Mỗi người một cách thích ứng riêng, nó đã tạo nên nhiều lối sống trong sinh viên và giới trẻ. Sinh viên là lớp tri thức đại diện và quyết định tương lai đất nước, chính vì thế việc bàn về lối sống của sinh viên là điều rất quan trọng và hết sức cần thiết. Toàn cầu hóa là một làn sóng vô cùng mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên không chỉ theo chiều hướng tích cực mà theo cả chiều hướng tiêu cực. Do vậy, phải nghiên cứu một cách có hệ thống những ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh viên Việt Nam để tìm ra những giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực 2 của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên, góp phần xây dựng lối sống sinh viên phù hợp với yêu cầu của sự phát triển con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình. 2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của người Việt Nam nói chung, sinh viên Việt Nam nói riêng là điều mà ai cũng nhận thấy. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, toàn cầu hóa là cản trở hay là động lực cho việc xây dựng lối sống sinh viên? Và nội dung, yêu cầu trong việc xây dựng lối sống cho sinh viên là gì, đòi hỏi phương hướng với những giải pháp gì trong việc phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên. Xung quanh vấn đề này có nhiều công trình theo những phương pháp tiếp cận khác nhau, quan điểm khác nhau, có thể khái quát một số hướng nghiên cứu sau. Thứ nhất Những công trình đề cập đến lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay Khi bàn về lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam đã có nhiều công trình được các tác giả nghiên cứu, điển hình như một số công trình sau Tác phẩm “ Bàn về lối sống và nếp sống xã hội chủ nghĩa” do tác giả Trần Độ chủ biên đã trình bày khá hệ thống các khái niệm và các mặt cần nghiên cứu của lối sống ở Việt Nam theo mô hình chủ nghĩa xã hội. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đã có nhiều công trình nghiên cứu lối sống của thế hệ trẻ mang lại bức tranh sinh động về thực trạng lối sống của thanh niên, sinh viên. Tác giả Trần Thị Minh Đức với công trình “Ảnh hưởng của môi trường ký túc xá sinh viên với lối sống sinh viên nội trú” đã phân tích thực trạng lối sống sinh viên trong môi trường ký túc xá. Công trình “ Lối sống và nhân cách của thanh niên” của tác giả Đỗ Long trình bày mối quan hệ của lối sống với việc hình thành nhân cách cho thanh niên 3 Đề tài “ Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng biện pháp giáo dục” của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục đã xác định khái niệm lối sống sinh viên và nêu ra một hệ thống những đặc điểm chủ yếu của lối sống sinh viên, từ đó tác giả đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm giáo dục lối sống cho sinh viên. Tác giả Nguyễn Viết Chức với công trình “ Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống với đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội. Khái niệm “ Lối sống” được nghiên cứu với ý nghĩa là một hình thái kinh tế - xã hội qua công trình “ Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa” do Thanh Lê làm chủ biên. Tập thể tác giả và tác giả Nguyễn Ngọc Hà với công trình “ Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã trình bày những quan điểm khác nhau về định nghĩa “ lối sống” Tác giả Hà Nhật Thăng đã bàn về đạo đức lối sống của thanh niên sinh viên trong bài “Thực trạng đạo đức, tư tưởng, chính trị, lối sống của thanh niên, sinh viên” Qua bài viết “ Xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” GS. TS Trần Văn Bính khẳng định toàn cầu hóa là xu thế khách quan, tất yếu đối với mọi quốc gia, tác động tích cực trên cả lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tinh thần, trong đó có lối sống. Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả luận văn có cơ sở để xây dựng quan niệm của mình về lối sống và lối sống sinh viên. Thứ hai Các công trình nghiên cứu về toàn cầu hóa và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay 4 Tác phẩm “Toàn cầu hóa và những mặt trái của nó” do Nguyễn Ngọc Toàn dịch đã viết về bản chất của toàn cầu hóa, và những bất cập trong đời sống xã hội xã hội chủ nghĩa do toàn cầu hóa mang lại trên nhiều lĩnh vực. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Minh năm 2007 với chủ đề “ Thách thức của toàn cầu hóa kinh tế đối với các nước đang phát triển và những bài học vượt qua thách thức cho Việt Nam” đã hệ thống hóa lý thuyết chủ yếu liên quan đến quan điểm toàn cầu hóa nền kinh tế, phân tích những đặc điểm của nước ta khi tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế, phân tích thực tiễn tham gia quá trình toàn cầu hóa kinh tế ở một số nước đang phát triển, chỉ ra tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa đến các nước đang phát triển. Trong giai đoạn toàn cầu hóa, tác giả Nguyễn Thị Huyền có nói về nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống con người Việt Nam qua bài viết “ Toàn cầu hóa và nguy cơ suy thái đạo đức, lối sống con người Việt Nam hiện nay”. Tác giả của công trình này đã chỉ ra tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống của con người Việt Nam hiện nay. Công trình “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta” do Nguyễn Chí Mỳ chủ biên đã luận giải sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong cơ chế thị trường, từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hình thành thang giá trị đạo đức mới, xây dựng giá trị đạo đức mới cho cán bộ quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên đã đề cập đến những giá trị truyền thống Việt Nam và những vấn đề đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa trong công trình “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa”. Hai tác giả trên đã chỉ ra toàn cầu hóa có thể tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, nhưng lại tạo nên những thách thức cho việc giữ gìn các giá trị truyền thống của dân tộc, đòi hỏi phải có giải pháp để vượt qua những thách thức đó. 5 Thứ baCác công trình đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và phát huy ảnh hưởng tích cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay Công trình “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khăc phục” của Nguyễn Đình Tường. Luận án tiến sỹ triết học của Nguyễn Văn Lý “Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” đã đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm giáo dục, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho sinh viên trong điều kiện hiện nay ở nước ta. Tác giả Lưu Thu Thủy với bài “Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho học sinh, sinh viên Việt Nam” Luận án tiến sỹ triết học của Võ Văn Thắng về đề tài “ Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay” PGS, TS Nguyễn Văn Phúc với bài viết “ Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện na” đã luận chứng một số giải pháp căn bản để tạo ra một bước chuyển mạnh mẽ trong việc xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta. Một số công trình trên đây đã cung cấp cho tác giả luận văn những kiến thức rất bổ ích, đồng thời gợi mở cho tác giả những nguyên tắc phương pháp luận để đề ra phương hướng và giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay theo yêu cầu của đề tài luận văn. Thứ tư, Những vấn đề đặt ra để luận văn tiếp tục nghiên cứu Một là, Các công trình nghiên cứu về lối sống sinh viên và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên chủ yếu dưới dạng bài báo khoa học hay đề tài khoa học nhưng còn ít công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ 6 triết học về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Những công trình nghiên cứu về lối sống trong giai đoạn vừa qua cũng chỉ đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của lối sống và lối sống sinh viên, chưa xem xét một cách cụ thể các yếu tố ảnh hưởng, tác động của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh viên. Luận văn mong muốn tiếp tục kế thừa, bổ sung làm sâu sắc thêm khái niệm lối sống, lối sống sinh viên, xác định tác động của toàn cầu hóa đến các yếu tố của lối sống và tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống sinh viên. Hai là, trong các công trình đã công bố, các tác giả đã cố gắng phân tích làm rõ thực trạng lối sống sinh viên nhưng không nhiều và còn chung chung. Các tác giả chủ yếu bàn về thực trạng lối sống con người Việt Nam. Nhưng những công trình trên đã đề cập đến những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn ở những góc độ khác nhau, phương pháp khác nhau, nội dung khác nhau về lối sống, xây dựng lối sống cho thanh niên, sinh viên; tác động của toàn cầu hóa đến lối sống… Tuy nhiên, còn khá ít công trình nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Xuất phát từ nội dung trên, luận văn đi sâu tìm hiểu vấn đề Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và phát huy ảnh hưởng tích cực đến lối sống sinh viên, hình thành ở sinh viên lối sống phù hợp với yêu cầu của thực tiễn xã hội hiện nay. 3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. Từ đó, đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. 7 - Nhiệm vụ nghiên cứu + Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về lối sống, lối sống sinh viên, toàn cầu hóa và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. + Phân tích thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay + Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Những ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống của sinh viên Việt Nam hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi sinh viên đang học tại các trường đại học trong thời gian đầu thế kỷ XXI đến nay, và chỉ nghiên cứu những nét chung của lối sống sinh viên như lối sống thể hiện trong hoạt động học tập, trong giao tiếp ứng xử ở nhà trường, trong hoạt động xã hội của sinh viên. 5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về đạo đức, lối sống thanh niên, sinh viên, ngoài ra luận văn còn tham khảo thêm những thành tựu khoa học của các công trình nghiên cứu liên quan tới nội dung được đề cập tới trong luận văn. - Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, so sánh…nhằm thực hiện mục tiêu mà luận văn đã đặt ra. 8 6 Đóng góp của luận văn - Luận văn góp phần xác định rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh vên Việt Nam hiện nay. - Luận văn góp phần làm rõ thực trạng ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. - Luận văn đề xuất một số giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay. 7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Luận văn góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của việc xây dựng lối sống cho sinh viên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. - Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các đoàn thể, cá nhân trực tiếp làm công tác giáo dục sinh viên và giảng dậy bộ môn có liên quan. 8 Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 02 chương và 06 tiết. 9 NỘI DUNG CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỐI SỐNG SINH VIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LỐI SỐNG SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY Quan niệm về lối sống và lối sống sinh viên Việt Nam Quan niệm về lối sống - Khái niệm về lối sống “ Lối sống” từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lí học, giáo dục học, đạo đức học, triết học… Trong nền văn hóa Việt Nam cổ truyền không có khái niệm lối sống. Trước cách mạng Tháng Tám, khái niệm phong hóa và phong tục được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ nói và viết. Khái niệm phong hóa vừa phản ánh sự bền vững của phong tục tập quán, vừa chỉ rõ mức độ thấm đượm nhuần nhụy và tinh tế của giáo dục và văn hóa dân tộc trong muôn mặt đời thường. Trong khi đó phong tục là lối sống đã thành nền nếp, thành nếp sống và tập quán lâu đời. Cuộc cải biến phong hóa dân tộc ở xã hội ta được mở đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX và phát triển mạnh mẽ thành phong trào đời sống mới do chủ tịch Hồ Chí Minh phát động từ năm 1946. Từ đó việc tổ chức cuộc sống lành mạnh, khoa học trong gia đình, ngoài thôn xóm, phố phường được mọi người quan tâm. Đời sống mới tạo ra nền văn hóa mới và con người mới với lối sống mới, đạo đức mới và chuẩn giá trị mới. Lối sống mới trở thành thuật ngữ thông dụng trong cuộc sống hàng ngày và trong đời sống khoa học. Hơn thế trong khuôn khổ của chủ nghĩa xã hội trên thế giới trước đây, từ những năm 70 của thế kỷ XX, một hội đồng nghiên cứu về lối sống xã hội chủ nghĩa được thành lập và Việt Nam là một thành viên tích cực. Có thể nói thuật ngữ lối sống xuất hiện như là kết quả của quá trình cải biến xã hội nói chung và xây dựng đời sống văn hóa mới nói riêng. Và cùng 10 với quá trình xây dựng con người mới, lối sống mới được nghiên cứu sâu rộng trên bình diện khoa học. Cho đến nay, chủ đề lối sống đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta. Về mặt ngữ nghĩa, lối sống trong tiếng Pháp là mode de vie, trong tiếng Anh là mode of life hoặc way of life, trong tiếng Đức là Lebensweise. Mặc dù có nhiều tác giả, nhiều tài liệu đề cập đến khái niệm lối sống, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về vấn đề này. Trong tác phẩm “ Hệ tư tưởng Đức”, và đã nêu lên quan niệm, sản xuất là yếu tố quyết đính sự tồn tại của cá nhân và phương thức sản xuất là hình thức cơ bản của hoạt động sống của con người. – viết “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân. Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [45,tr30] Theo lối sống chính là phương thức, là dạng hoạt động của con người, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và toàn bộ những điều kiện sinh sống của con người. Từ đó cho rằng, ở những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau sẽ có lối sống tương ứng với những hình thái kinh tế - xã hội đó. Đặc biệt, trong những xã hội có giai cấp, lối sống cũng mang tính giai cấp. Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa, cho rằng “lối sống là tổng hòa những nét cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội, dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”[70, Tiến sĩ triết học xô viết cũng dựa vào phạm trù hình thái kinh tế - xã hội, một phạm trù bao quát tất cả các điều kiện và những nhân tố quyết định lối sống, để xác 11 định nội dung lối sống. Ông định nghĩa lối sống là “ những hình thức cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người; những hình thức ấy nói lên các đặc điểm về sự giao tiếp, hành vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội – chính trị, sinh hoạt và giải trí”[ 70, Những định nghĩa bao quát này có thể phản ánh được đầy đủ “cái xã hội” của lối sống, nhưng lối sống là cái xã hội trong cái cá nhân cho nên tính chủ thể của lối sống chưa được phản ánh rõ nét trong các định nghĩa trên. Trong tiếng Việt, lối sống là một danh từ ghép gồm từ lối và từ sống. Lối là lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức. Sống là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật và xã hội của mỗi con người. Theo nghĩa từ ngữ đó thì lối sống là thể thức, phương thức hoạt động của con người. Khái niệm “lối sống” bắt đầu được đề cập trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng và tiếp tục được đề cập đến ở các kỳ đại hội tiếp theo. Đại hội XI khẳng định “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà Nước”[22, Sự suy thoái về đạo đức diễn ra cả trong giới trẻ. Lối sống ở đây được dùng theo nghĩa hẹp, chỉ các hành vi đạo đức, cách ứng xử của con người. Quan điểm của các nhà khoa học thuộc đề tài cấp Nhà nước được nêu khái quát trong Báo cáo tổng kết chương trình KX-06 1991 – 1995 như sau “Lối sống, trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể trước những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống. Môi trường sống là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư”[61]. Định nghĩa này tiếp cận lối sống như một phương thức hoạt động thực tế của con người trong một môi trường nhất định. Và lối sống tuy chịu sự tác động khách quan của môi trường sống nhưng khi 12 trở thành lối sống thì cùng với truyền thống văn hóa, lối sống có thể biến cải môi trường tự nhiên sao cho thích hợp với hệ thống các nhu cầu sống của con người. Định nghĩa này có ưu điểm là đã làm sáng tỏ được mối quan hệ biện chứng giữa lối sống và môi trường, chỉ ra được vai trò tích cực của văn hóa lối sống và văn hóa nói chung. Trên cơ sở tiếp cận quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin về lối sống, GS Vũ Khiêu trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người” đã định nghĩa “ Lối sống là phạm trù xã hội, khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa”[41, TS Nguyễn Viết Chức cho rằng “Lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình và tương đối ổn định của con người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”[09, Như vậy, trên cơ sở những quan điểm mà các tác giả đưa ra khi định nghĩa về lối sống, chúng ta có thể nhận thấy những nét tương đồng khi cho rằng lối sống là sự khái quát hay tổng hòa toàn bộ hoạt động sống của con người trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống từ lao động, trong sinh hoạt vật chất đến tinh thần, trong quan hệ giữa người với người. Từ những phân tích, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ở trên, ta có thể định nghĩa lối sống là phương thức sống của con người trong một chế độ xã hội nhất định được biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống như lao động, sản xuất, hoạt động chính trị, hoạt động văn hóa tinh thần và hoạt động giao tiếp hàng ngày. Từ định nghĩa trên, có thể thấy lối sống có những nội dung cơ bản sau 13 Thứ nhất, lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của con người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất địn. Đặc trưng bản chất nhất của lối sống trực tiếp gắn với giá trị tinh thần – văn hóa của con người. Thứ hai, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất và toàn bộ các điều kiện sống của con người. Tuy nhiên sự quy định đó phải thông qua hoạt động của chủ thể và mang dấu ấn khúc xạ bởi các chủ thể mà các chủ thể đó là con người hoặc các cộng đồng người với tư cách là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh. Do đó, lối sống có tính chất độc lập tương đối so với sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội. Nó có thể gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với phương thức sản xuất và những điều kiện khác quy định nó. Thứ ba, lối sống có tính linh hoạt và cơ động xã hội cao. Mỗi lối sống đều có đặc trưng riêng về nội dung và hình thức biểu hiện. Thứ tư, để nắm bắt được đặc trưng bản chất của lối sống khi xem xét toàn bộ các hình thức hoạt động của con người cần coi trọng đặc biệt hoạt động lao động – sản xuất, các giá trị vật chất và tinh thần. Bởi lẽ, đây là hình thức hoạt động nền tảng để con người bồi dưỡng tính người và bản chất con người – xã hộị. Thứ năm, con đường để nắm bắt nội dung và phạm vi của khái niệm lối sống là tìm hiểu các hành động xã hội, cách thức hình thành và định hình các khuôn mẫu ứng xử. Thứ sáu, lối sống xã hội nói chung đều mang tính chất văn hóa, vì việc biểu tượng hóa thế giới tự nhiên và xã hội thành thế giới của những biểu trưng văn hóa trong nhận thức, tình cảm và hành động của con người là đặc thù của xã hội loài người. Khái niệm lối sống sẽ không được tiếp cận triệt để và hệ thống nếu không tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng từ các hành động xã hội, quá trình xã hội, quan hệ xã hội cho đến khuôn mẫu ứng xử và thể chế xã hội. 14
Thực trạng lối sống sinh viên hiện nayBạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây KB, 30 trang Có thể bạn quan tâmCuộc thi marathon Rock n Roll Las Vegas 2023 diễn ra ở đâu?Giá cà phê hiện tại bao nhiêu?Lạm phát của Úc sẽ là bao nhiêu vào năm 2023?Cuộc họp RBA tháng 3 năm 2023Carneiro 2023 dấu hiệu của người Maya I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trong những năm gần đây xã hội đang thay đổi từng ngày với một tốc độ chóng mặt. Nó bị ảnh hưởng bởi những luồng tư tưởng từ khắp nơi xâm nhập vào. Vì thế mà xã hội ngày càng phát triển nhưng bên cạnh đó nó cũng làm thay đổi về tư tưởng về lối sống của nhiều người. Đặc biệt ở đây , một vấn đề rất được quan tâm là lối sống của sinh viên ngày nay. Nói đến sinh viên tức là nói đến thế hệ đang nắm trong tay tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển đất nước nói riêng. Về mặt số lượng, sinh viên là một lực lượng không nhỏ. Họ là lớp người đang được đào tạo toàn diện và đầy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa học Nói đến sinh viên Việt Nam tức là nói đến một thế hệ trẻ đầy sức sống và sức sáng tạo. Họ nắm trong tay tri thức của thời đại, chìa khóa mở ra cánh cửa cho tiến bộ xã hội nói chung và sự phát triển đất nước nói riêng. Về mặt số lượng, sinh viên là một lực lượng không nhỏ .Hiện nay Việt Nam có tổng số 376 trường đại học, cao đẳng trên cả nước, trong đó bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý 54 trường, các Bộ, ngành khác quản lý 116 trường, Các tỉnh, thành phố là cơ quan chủ quản của 125 trường. Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng người, số lượng tuyển sinh hằng năm trong những năm gần đây khoảng người/kỳ thi. Về mặt chất lượng, sinh viên là lớp người trẻ được đào tạo toàn diện và đấy đủ nhất, bao gồm các chuyên ngành học trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa học chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chuyên ngành theo học, sự phân bố các trường, khu vực sinh sống và học tập, lối sống của sinh viên Việt Nam nhìn chung cực kỳ đa dạng và phong phúNhưng xã hội ngày càng văn minh hiện đại, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, công cuộc hội nhập với thế giới càng cao, đời sống con người càng được nâng cao thì càng đặt ra cho sinh viên, tầng lớp tri thức, giới trẻ ngày nay càng nhiều thử thách. Khi mà các nền văn hóa phương tây đang du nhập vào Việt Nam, có những điều tốt đẹp nhưng cũng không ít những giá trị văn hóa không thích hợp với tư tưởng, truyền thống của người phương đông, câu hỏi đặt ra là sinh viên, tầng lớp trí thức sẽ thích ứng thế nào với một môi trường mới? Họ sẽ chọn lọc học những cái hay, cái đẹp phù hợp với bản thân hay học theo cái xấu không phù hợp để rồi dần dần đánh mất đi những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Mỗi người có một cách thích ứng riêng nên nó đã tạo nên nhiều lối sống trong sinh viên và giới trẻ. Sinh viên là lớp thanh niên trí thức đại diện và quyết định tương lai đất nước, chính vì thế việc bàn về lối sống của sinh viên là một điều quan trọng và hết sức cần TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1- Thực trạng sinh viên hiện nay thụ động trong học tập Làm thêm, dạy kèm, bán hàng , tiếp thị dẫn đến lơ là học tập, hoặc không theo nổi chương trình học đại học là những lý do sinh viên bị buộc thôi học. Tuy nhiên đó không phải là lý do chính, vì có những sinh viên vừa học vừa làm thêm nhưng kết quả học tập vẫn đạt điểm nhân ở đây là do sinh viên không chịu tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho chuyên môn của mình mặc dù trong phương pháp giảng dạy đại học nhiều thầy cô lên lớp chỉ hướng dẫn và đưa ra những tư liệu, đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảovà tâm lí quen với việc đọc _chép. Từ đó dẫn đến thực trạng thụ động trong học tập của phần lớn sinh viên hiện nay. Từ thực tế trên cho thấy bên cạnh chương trình học tập đại học hiện nay đã nặng nề, thì công cụ để truyền tải kiến thức hiện nay cũng chưa lấy gì làm hài lòng. Số sinh viên tìm đến thư viện không nhiều, chỉ lác đác vài bạn đến thư viện những ngày bình thường và có nhiều hơn một chút khi mùa thi đến. Nhân viên quản lý thư viện cho biết, một ngày bình quân chỉ có khoảng vài chục em đến đây ngồi học, tìm tòi tư khi đó, giờ giảng dạy của giảng viên trên lớp không có gì hơn ngoài một cái micrô cứ ọc-ẹc theo kiểu mạnh thầy thầy cứ nói, còn lớp học đông đúc thì mạnh trò, trò ngủ. Tại một hội thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy đại học mới đây, một giáo sư ở Trường ĐH Sư phạm đã phải cảnh báo khi ông khám phá ra cách học tập của sinh viên mà ông trực tiếp giảng dạy hiện nay thụ động đến độ khó tin! Để kiểm nghiệm cách học thụ động này đến đâu, vị giáo sư đã làm cuộc điều tra bỏ túi tuần đầu chỉ đứng giảng trên lớp cho sinh viên và cả học viên cao học ghi chép, kết quả chỉ 40% đạt điểm kiểm tra trên trung hai, giáo sư lên lớp chỉ hướng dẫn đầu sách tham khảo, kết quả trên 60 % sinh viên đạt điểm trung bình. Trong hai tuần này, tinh thần học tập của sinh viên không mấy thích thú, thậm chí có người nằm ngủ gật! Nhưng đến tuần thứ ba, vị giáo sư áp dụng phương pháp gợi mở câu hỏi đề tài, thì cả lớp thảo luận, tranh cãi quyết liệt, và kết quả học tập khiến cho vị giáo sư hài lòng 90% đạt điểm kiểm tra trên trung bình. Ở các nước tiên tiến, một giáo sư khi giảng dạy trên lớp luôn phải đi kèm từ một đến hai trợ giảng. Những trợ giảng này luôn đảm nhiệm công tác điều phối không khí lớp học, nội dung học tập của sinh viên và tổ chức những cemina cho sinh viên bàn thảo đề tài học tập, gợi mở kiến thức. Từ đó, người học bị lôi cuốn theo chiều hướng chủ động và sáng tạo. Nhưng đó là chuyện ở các nước, còn ở các trường ĐH chúng ta hiện nay, để làm được việc này vẫn còn khoảng cách khá xa! Thêm nữa, tâm lí quen đọc _ chép mỗi khi trên lớp cũng dẫn tới tình trạng thụ động của sinh viên, nếu giảng viên không đọc thì sinh viên cũng không chép, chỉ ngồi nghe và thưc tế là kiến thức đọng lại trong đầu khi đó sẽ rất ít,thậm chí là không có gì. Trong khi đó sinh viên cũng không có thói quen đọc giáo trình và các tài liệu liên quan đến môn học đó khi ở nhà. Rõ ràng khi ngại phát biểu trong giờ học sẽ dẫn đến ngại phát biểu trong cơ quan làm việc sau này. Ngại phát biểu cũng đồng nghĩa với việc không dám nói lên sự thật, không dám nhìn nhận cái sai.... Trong mỗi giờ học, chuyện sinh viên phát biểu ý kiến là rất ít thay vào đó là Giảng viên nêu vấn đề, sinh viên cúi mặt xuống bàn... Đó là việc các thầy cô đứng trên bục giảng và yêu cầu nhiều lần các sinh viên trả lời câu hỏi. Đó không phải là những câu hỏi khó. Thông thường nó đều nằm trong phạm vi hiểu biết và có thể trả lời của sinh viên. Thế nhưng rất ít có cánh tay nào giơ lên. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến không khí học tập trong lớp. Nó gây ra một cảm giác rất áp lực mỗi khi thầy cô đặt câu hỏi. sinh viên thì cảm thấy áp lực, còn giáo viên cũng cảm thấy chán nản vì chỉ có sự làm việc một chiều. Vậy thì nguyên nhân do đâu sinh viên "không thèm phát biểu ý kiến trong giờ học ? Sau đây là 6 nguyên nhân được đưa ra 1 Chuyện phát biểu là chuyện của ai đó chứ không phải của mình. Mình không phát biểu thì sẽ có người khác phát biểu, thế thôi . 2 Không muốn là người đầu tiên. Đây là một tâm lý khá phổ biến bởi khi một người nào đó đã giơ tay phát biểu và khi thầy cô tiếp tục hỏi về vấn đề đó thì có khá nhiều người xung phong nhưng lại không giơ tay ngay từ đầu . 3 Không phát biểu không sao, vì thầy cô gọi mãi không ai xung phong thì sẽ "chọn mặt gửi vàng" trong danh sách lớp và sẵn làm luôn công việc điểm danh. Xong, thế là qua chuyện, họa hoằn lắm thầy cô mới gọi trúng mình. 4 Đa phần những người hay phát biểu không phải là những "sao" trong lớp. Không hiểu rằng các "sao" này sợ phát biểu nếu sai sẽ bị mất hình tượng hay sao mà không bao giờ giơ tay phát biểu nhưng lại thích ngồi ở dưới trả lời nho nhỏ. 5 Trong những giờ học ngoại ngữ , điều này lại càng khó chịu hơn. Lớp học thật sự căng thẳng mỗi khi thầy cô có câu hỏi và yêu cầu xung phong. Lớp học thì ít người, thầy cô cứ đứng trên mà kêu gọi, ở dưới sinh viên cứ cúi mặt xuống bàn . 6Và cuối cùng có lẽ chính là do sự thụ động, nhút nhát trong một bộ phận lớn sinh viên hiện nay. Tuy nhiên, "chuyện phát biểu trong sinh viên" không phải chỉ xuất hiện ở giảng đường đại học. Ngay từ ngôi trường cấp II, cấp III điều này cũng đã khá quen thuộc. Thế nhưng quy mô những lớp học ngày xưa còn nhỏ, thầy cô đã khá quen mặt nên nếu không xung phong, thầy cô sẵn sàng gọi lên bảng. Ở cấp I lại khác, các em phát biểu khá hồn nhiên và luôn làm theo lời cô dạy "hăng hái phát biểu ý kiến". Vậy thì tại sao lại xảy ra một hiện tượng kỳ quặc đến như vậy?! Phải nhìn nhận rằng sự vô trách nhiệm, thụ động, ỷ lại đang thật sự tồn tại trong một bộ phận lớn những người chủ tương lai của đất nước . Từ việc ngại phát biểu trong giờ học sẽ dẫn đến ngại phát biểu trong cơ quan làm việc sau này. Ngại phát biểu cũng đồng nghĩa với việc không dám nói lên sự thật, không dám nhìn nhận cái sai. Như thế, cái sai không được đưa ra ánh sáng, không được làm rõ nên sẽ không thể tìm ra được cách giải quyết, không thể tiến bộ. Một đất nước mà có thế hệ trẻ như thế thì lạc hậu là chuyện không thể tránh khỏi. Thông qua việc tiến hành khảo sát bằng câu hỏi tại sao sinh viên giờ lười phát biểu? ở một số bạn sinh viên nằm rải rác ở một số trường ĐH và CĐ và đây là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng "ít phát biểu" được rút ra từ 15 phiếu khảo sát tiêu biểu nhất1 . Do sinh viên quá lười học, không chịu chuẩn bị bài trước ở nhà mà chỉ đợi lên lớp chờ giảng viên giảng rồi chép vào nên không đủ kiến thức để trả lời những câu hỏi của thầy cô2 . Vì sợ phát biểu sai bị bạn bè cười nhạo và đôi khi sợ bị thầy cô la hoặc có thể bị trừ điểm thì "quê độ"3 . Trong lớp không ai giơ tay phát biểu mà mình phát biểu thì sợ bị coi là "chảnh"4 . Có khi câu hỏi quá khó vượt ngoài kiến thức hiểu biết5 . Có thể sinh viên không cảm thấy hứng thú với môn học, tiết học thiếu tranh ảnh minh họa, giảng viên giảng bài chưa cuốn hút... nên sinh viên chọn cách ngồi chép bài là hơn6 . Tán chuyện hoặc không tập trung nghe giảng nên không hiểu rõ câu hỏi7 . Đôi khi câu hỏi được đặt ra quá dễ, bạn nào cũng biết rồi nên không ai giơ tay phát biểu vì không có hứng 8 . Trong một số trường hợp giơ tay phát biểu là vì được khuyến khích cộng thêm điểm số nhưng đây chỉ là phần thiểu số9 . Không khí trong lớp học không được sôi động10 . Sợ phát biểu đúng có thể thầy cô sẽ đặt tiếp những câu hỏi khác mà mình không biết trước được11 . Không tự tin vào bản thân, ngại ngùng khi phải đứng lên và trả lời trước đám đông... Phần lớn sinh viên được khảo sát cho rằng những nguyên nhân có ảnh hưởng tiêu cực tới hứng thú học tập trong sinh viên là trong quá trình giảng dạy, giảng viên không đưa ra các tình huống để kích thích sinh viên tư duy, không cập nhật thông tin về đời sống xã hội, phần lớn thời gian trong giờ học giảng viên chỉ đọc cho sinh viên chép những kiến thức sẵn có trong giáo trình rồi giải thích qua loa, không tạo được bầu không khí thân thiện trong lớp... Nhưng ngoài ra Sự áp đặt của giảng viên cũng khiến sinh viên sợ sai ! Đa phần sinh viên rất ngại phát biểu, trừ khi gặp những vấn đề khúc mắc không tự tìm hiểu được thì mới cần phải hỏi trực tiếp giảng viên. Ở một số môn học, đặc biệt là các môn đại cương, có thể nói giảng viên chỉ truyền đạt lại cho sinh viên theo cách đọc - chép nên không tạo được bầu không khí học tập sôi động. Một số giáo viên có nêu câu hỏi rồi chỉ định hoặc để sinh viên tự giơ tay trả lời, nhưng phần đông sinh viên không hưởng ứng lắm. Những nguyên nhân chính khiến sinh viên ngại phát biểu là cảm giác sợ sai. Sự áp đặt của giáo viên cũng "đóng góp" vào tâm lý sợ sai của sinh viên. So với thế giới, sinh viên nước ta còn thụ động. Chỉ có chừng vài phần trăm sinh viên là chủ động. Điều này làm giảm năng lực tự nghiên cứu của sinh viên. Khác với học sinh, nhiệm vụ của sinh viên là học và nghiên cứu. Sinh viên không nên thụ động, lên giảng đường nghe thầy giảng rồi... trả lại cho thầy mà phải tự tìm tài liệu đọc để thảo luận trước lớp. Việc thầy cô gợi ý để sinh viên thảo luận cũng thể hiện được sự chưa chủ động ở sinh viên. Vậy mà thậm chí, có khi thầy nêu vấn đề thảo luận rồi mà sinh viên vẫn ngồi im, không hăng hái tham gia. Điều này làm giảm chất lượng giờ dạy vì giảng viên muốn nghe ý kiến sáng tạo, giải quyết vấn đề của sinh viên. Một số giảng viên phải đưa ra biện pháp cộng điểm cho sinh viên nào tích cực phát biểu. Không đọc trước tài liệu làm tăng tính rụt rè của sinh viên khi phát biểu trước lớp. Kết quả là bạn trẻ tốt nghiệp ĐH rồi mà vẫn nhút nhát và e ngại khi diễn đạt trước đám đông, dẫn đến sự hạn chế tinh thần làm việc theo nhóm và khả năng lãnh đạo nhóm. Nếu tâm lý nhút nhát này phổ biến rộng rãi thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. Theo đó, hầu hết bạn trẻ nước ta mới ra trường chưa thể làm "sếp" ngay được, trong khi ở các nước tiên tiến chỉ chừng 30 tuổi là người ta đã thể hiện rõ chất lãnh đạo của mình. Tự tin phát biểu nghĩa là mạnh dạn trước công chúng. Điều này càng quan trọng đối với người trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn vì đây là khả năng thuyết phục được người khác thông qua lời nói. Sợ không dám nói nghĩa là bỏ qua cơ hội. Để khắc phục được điều này, sinh viên phải tự học để nắm vững kiến thức và mạnh dạn phát biểu. nhưng mỗi sinh viên lớn lên trong môi trường văn hoá, xã hội khác nhau, hình thành những thói quen, cách suy nghĩ, các năng lực nhận thức, hứng thú cũng khác nhau. Điều này tạo nên sự đa dạng và sự phong phú về phong cách học, một số sinh viên học tập tích cực, chủ động, một số khác lại tỏ ra thụ động, thích im lặng ngồi nghe hơn là tranh cãi. Vậy sinh viên mong muốn gì ở giảng viên? Làm nên sự thụ động của sinh viên, lỗi cũng một phần chính là ở giảng viên. Đa số sinh viên được khảo sát mong muốn giảng viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để tích cực hoá người học trong các giờ học. Có 88,8% sinh viên muốn các bài giảng của giảng viên gồm cả những tri thức mới không có trong giáo trình; 73,3% sinh viên thích được giảng viên giao làm những bài tiểu luận để giúp họ phát triển khả năng suy nghĩ độc lập, tư duy phê phán; 82,4% sinh viên thích giảng viên hỏi, khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi, hướng dẫn sinh viên đào sâu suy nghĩ để hiểu bản chất hơn là thuyết trình suốt cả tiết học; 85,6% sinh viên muốn khi bắt đầu mỗi môn học, giáo viên nêu yêu cầu, hướng dẫn phương pháp học, tài liệu tham khảo và cách khai thác thông tin từ các tài liệu tham khảo này; 79,2% sinh viên mong muốn các môn học có nhiều giờ tự học có hướng dẫn và giải đáp thắc mắc hơn so với hiện nay. Tuy nhiên, khi đưa ra con số chỉ có 34,7% sinh viên thích hỏi và đưa ra những quan điểm của cá nhân, nhưng có dự báo rằng những đổi mới về phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hoá người học có thể sẽ gặp những khó khăn đáng kể do nếp nghĩ và các thói quen học thụ động đã định hình ở một bộ phận lớn sinh viên hiện nay. Các nghiên cứu về tâm lý học đường cho thấy chương trình đào tạo với phương pháp giảng dạy mang tính nhồi nhét kiến thức hiện nay đã tạo ra một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên thụ động, thiếu khả năng thích ứng xã hội. Sinh viên luôn thụ động với khối lượng kiến thức về lý thuyết, việc thực hành, thực tập bị xem nhẹ, thậm chí bị bỏ qua, từ đó tạo ra một bộ phận không nhỏ sinh viên thụ động, vụng về, thiếu khả năng thích ứng xã hội. Thực trạng sinh viên lười lao động và học tập ngày một nhiều. Bởi lẽ gia đình cứ tưởng con em mình đang vất vả, lao tâm khổ tứ cày trên giảng đường, luôn sợ con vất vả hơn bạn bè, gởi tiền dư giả. Nào ngờ, một số bạn luôn ăn chơi sa đà, nhậu nhẹt đến suốt sáng, chơi bài bạc, game... Chờ tới khi thi, nước tới chân mới nhảy. 2- Thực trạng lối sống sinh viên chia làm 3 loại Theo một nghiên cứu của trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng Giảng viên Khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay. Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa. Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên hiện nay. 60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội! Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động xi nhê gì đến họ! Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này. 10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ!Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới..., Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập..., Hàng hiệu hợp thời ở chỗ.... Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này. Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng "sành điệu". Lắm khi ăn chơi kiểu bạt mạng đến quên cả lối về! 30% sinh viên say mê học tập?Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập. Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành - Lối sống đẹp Lối sống lý tưởng Sống đẹp là phải biết ứng xử văn minh, tích cực tham gia hoạt động cộng đồng, bảo vệ môi trường, kính trọng thầy cô và xa lánh những tệ nạn trong giảng đường như quay cóp, hút thuốc, rượu bia, đánh nhau...Nhiều sinh viên luôn đầy ắp các ý tưởng độc đáo và thú vị; và họ tận dụng mọi cơ hội để biến các ý tưởng ấy thành hiện thực. Không chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự mình tạo ra cơ hội . Đã có nhiều sinh viên nhận được bằng phát minh , sáng chế; và không ít trong số những phát minh ấy được áp dụng, được biến thành những sản phẩm hữu ích trong thực tiễn. Với thế mạnh là được đào tạo vừa toàn diện vừa chuyên sâu, sinh viên có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Trong học tập, sinh viên không ngừng tự đổi mới phương phấp học sao cho lượng kiến thức họ thu được là tối đa. Không chờ đợi, thụ động dựa vào thầy cô, họ tự mình đọc sách, nghiên cứu, lấy thông tin, tài liệu từ mọi nguồn. Phần lớn sinh viên đều có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sinh sống và học tập. Họ không chỉ học tập trong một phạm vi hẹp ở trường, lớp; giới trẻ ngày nay luôn phát huy tinh thần học tập ở mọi nơi, mọi lúc. Không chỉ lĩnh hội tri thức của nhân loại, sinh viên Việt Nam còn tiếp thu những cái hay, cái đẹp trong mọi lĩnh vực khác như văn hóa, nghệ thuật Sự năng động của sinh viên còn được thể hiện ở việc tích cực tham gia các hoạt động xã hội như y tế, từ thiệnNgoài giờ học, những sinh viên-tuyên truyền viên hiến máu nhân đạo lại ngược xuôi đi lại mang kiến thức về hiến máu đến mọi người, mọi nhà Bằng sự năng động, sinh viên luôn tự cập nhật thông tin, kiến thức, làm mới mình phù hợp với sự thay đỏi và phát triển của xã hội. Rõ ràng, năng động và sáng tạo là những ưu điểm nổi bật của sinh viên Việt Nam thời đại mới. Một số bộ phận sinh viên luôn thể hiện mình là những con người táo bạo và tự tin. Sinh viên dám nghĩ , dám làm, dám chịu thử thách. Các ý tưởng độc đáo không chỉ nằm trong suy nghĩ mà luôn được thử nghiệm trong thực tế. Có thể thành công
Sinh viên SV trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là "tổng hòa của các quan hệ xã hội". Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt. Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo. Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như SV. Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin Ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan. Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo. Về môi trường sống, SV thường theo học tập trung tại các trường ĐH và CĐ thường ở các đô thị, sinh hoạt trong một cộng đồng trường, lớp gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi. Đối với SV nước ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hóa, với hai nguyên nhân cơ bản Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào. Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây. Tính thực tế Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v. V.. Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ. Tính năng động Nhiều SV vừa đi học vừa đi làm làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty, hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là SV, thể hiện sự tích cực chủ động tham gia phong trào tình nguyện. Nhiều SV cùng một lúc học hai trường. Tính cụ thể của lý tưởng Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là SV hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có thể khẳng định lŕ có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân. Tính liên kết - tính nhóm Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong SV trước xu hướng toàn cầu hóa cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này đang hướng mạnh đến tính cộng đồng. Tính cá nhân Trào lưu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là SV. Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân. Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân. Sự hy sinh và quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ. Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận SV. Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau. Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế. Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực. Vai trò của sinh viên trong đời sống xã hội Vai trò của SV trong bức tranh xã hội ngày càng được ghi nhận đậm nét. Trong Hiến chương nhân bản 2000 được 86 học giả và nhà hoạt động xã hội tên tuổi trên thế giới cùng ký tên, đã nhận xét "Hiến chương nhân bản II được công bố năm 1973 để ứng xử các vấn đề phát sinh trên hiện trường thế giới kể từ đó Sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít, chiến tranh lạnh.. và sự xuất hiện của sức mạnh SV trong các trường đại học". Sinh viên Việt Nam là những trí thức tương lai của đất nước, không ai hết mà chính họ sẽ là những người đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc CNH, HĐH đất nước. Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ, của sự phát triển KHKT, nên rất cần có những con người trẻ tuổi, có trình độ và năng lực sáng tạo cao, có khả năng tiếp nhận cái mới rất nhanh và biết thay đổi linh hoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, đại diện cho một thế hệ tiên tiến mới. Hồ Chí Minh trong "Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán 1946" đã viết "Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội". Và Người căn dặn "Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên". Trong hai cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam của hai nguyên thủ quốc gia từ hai cường quốc Tổng thống Mỹ Bill Clinton chiều 17-11-2000 và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Giang Trạch Dân sáng 28-2-2002, cả hai đều chọn Đại học Quốc gia Hà Nội để đến thăm và đọc bài phát biểu trước SV. Lý do, như ông Clinton cho biết, SV là tương lai, và chúng ta cần nhìn về tương lai. Còn Chủ tịch Giang Trạch Dân trong bài phát biểu tại cuộc gặp cũng có ý kiến tương tự "Tương lai tươi đẹp cần thanh niên tạo ra. Tương lai thuộc về thanh niên". Thủ tướng Hàn Quốc Lee Han Dong trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cũng đến thăm SV Đại học Quốc gia Hà Nội chiều 10- 4-2002. Ông nói "Nhìn hình ảnh các bạn SV tươi trẻ tràn đầy sức sống, tôi lại nhớ thời SV của tôi cách đây 40 năm, ngay khi chiến tranh vừa kết thúc. Lúc đó chúng tôi học với mục đích rõ ràng Tái thiết đất nước. Nếu cho rằng thế hệ trước của các bạn đã trả bằng máu, mồ hôi và nước mắt vì triết lý" Không có gì quý hơn độc lập tự do "thì nay các bạn phải nỗ lực nhằm mục tiêu" Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ". Chủ tịch Phidel Castro Ruz Cuba, trong chuyến thăm Việt Nam đã có cuộc gặp và nói chuyện với SV trường Đại học Bách khoa Hà Nội 3-2003. Thủ tướng Đức Gerhard Schroeder trong chuyến thăm nước ta một ngày 15- 5- 2003 cũng dành thời gian gặp gỡ với SV trường này. GS. TS. Người Mỹ Joseph Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001 vì những cống hiến xuất sắc trong nghiên cứu khoa học về quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển, trong chuyến thăm và làm việc tại nước ta cuối tháng 6- 2001 cũng đã nhận xét về thế hệ trẻ ở các nước đang phát triển" Môi trường mới đòi hỏi tư duy phải đổi mới nhanh nhạy để phù hợp, và giới trẻ thích nghi dễ dàng hơn so với người già. "Chính họ đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một tư duy kinh tế mới". Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người. Với SV, những người ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời. Nếu điểm xuất phát tốt, họ sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược lại, con đường đi lên sẽ gặp trắc trở khó khăn. Một đất nước Việt Nam có phồn vinh và vững mạnh trong tương lai hay không là phụ thuộc phần lớn vào thế hệ trẻ sau này, trong đó có sinh viên. Admin và Liberty thích bài này. Last edited by a moderator 14 Tháng sáu 2019 sinh viên
sinh viên việt nam hiện nay