ngoài ra, các đơn vị, địa phương cần chú trọng phát triển sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, xây dựng các khu, điểm du lịch, bản du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; tiếp tục chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa …
Triển khai Quyết định số 1129/QĐ-TTg, ngành du lịch đã xây dựng Đề án phát triển sản phẩm du lịch đêm theo 5 mô hình hoạt động cơ bản để các địa phương căn cứ vào tình hình thực tế có thể áp dụng triển khai.
Cần gắn kết du lịch ngày và đêm, phát triển đồng bộ sản phẩm kinh tế đêm (văn hóa, ẩm thực, điểm tham quan…) để giữ chân khách lưu trú tại TPHCM lâu hơn. Ngành giao thông phối hợp chặt chẽ với ngành du lịch để các tour, tuyến đưa đón khách đúng lịch trình, giúp
Phát triển du lịch trở thành kinh tế mũi nhọn Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao những nỗ lực, thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Bình Thuận đạt được trong suốt chặng đường 30 năm xây dựng, đổi mới và phát triển, góp phần thiết thực vào thành tựu chung của cả nước.
Phát triển ngành công nghiệp giải trí và du lịch huyện bàu bàng cơ hội thách thức và đề xuất chính sách development of entertainment and tourist services of bau bang district challenges, chances and policy proposal bài học quý báu cho tỉnh Bình Phước khi phải đối phó với một chiến
Vay Tiền Nhanh. Tiến trình phục hồi của du lịch Việt Nam đang lạc nhịp so với thế giới. Trong khi thế giới đã tăng 31% so với năm 2020 thì du lịch Việt đang tiếp tục rơi.’ Vì thế, vấn đề đặt ra là phải phục hồi ngay nền kinh tế xanh Việt Nam và tốc độ nhanh hơn so với các nước để không tụt hậu. Đó là khẳng định của chuyên gia cao cấp Võ Trí Thành, Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương tại tọa đàm bàn tròn trong khuôn khổ Hội thảo Du lịch 2021 với chủ đề “Du lịch Việt Nam-Phục hồi và phát triển,” vừa diễn ra hôm nay ngày 25/12, tại thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Vậy giải pháp nào để du lịch Việt Nam không lạc nhịp’ với thế giới? Du lịch Việt đang “rơi thẳng đứng” Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Đoàn Văn Việt Khái quát bức tranh toàn cảnh ngành du lịch Việt thời gian qua Trong suốt 4 đợt bùng phát của dịch COVID-19, các hoạt động du lịch quốc tế đóng cửa hoàn toàn, khách nước ngoài chủ yếu là các chuyên gia, khách công vụ. Du lịch nội địa hoạt động phụ thuộc vào chu kỳ bùng phát dịch và hết sức cầm chừng. Năm 2021, đợt dịch thứ 4 bùng phát mạnh mẽ trên cả nước khiến các hoạt động kinh tế, xã hội đình trệ nhiều tháng. Mới đây, du lịch quốc tế bắt đầu mở cửa, khách du lịch nội địa tiếp tục giảm gần 30% so với cùng kỳ 2020. [Du lịch Việt sẽ phục hồi, phát triển trong bối cảnh mới ra sao?] Đáng nói, các quy định giãn cách phòng chống dịch, đóng cửa các điểm tham quan và dừng hầu hết các loại hình cung ứng khiến chuỗi dịch vụ đứt gãy nghiêm trọng. Năm 2020, có 338/ doanh nghiệp lữ hành quốc tế xin thu hồi giấy phép, 90% doanh nghiệp đóng cửa. Toàn cảnh hội thảo vừa diễn ra hôm nay tại Nghệ An. Ảnh TCDL Năm 2021, lượng doanh nghiệp lữ hành xin thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành chiếm trên 35% tổng số đã được cấp phép, phần còn lại dừng hoạt động. Lĩnh vực lưu trú chiếm 46% trong cơ cấu tổng thu của ngành du lịch Việt Nam cũng buộc phải đóng cửa khoảng 90% và hầu như không có khách, trừ các cơ sở đón khách cách ly. Hầu hết cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, các điểm tham quan, di tích, khu vui chơi giải trí... bị thiệt hại lớn khi không có khách và đến nay vẫn chưa hoàn toàn mở cửa trở lại. Những “con số biết nói” nếu trên cho thấy du lịch Việt đang “rơi thẳng đứng” từ đỉnh cao và tiếp tục “rơi” trong năm 2021. Nguyên phó viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương, ông Võ Trí Thành đặt câu hỏi với các đại biểu “Các anh, chị đau đáu, trăn trở nhất với điều gì trước vận mệnh của ngành du lịch?” Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Hà Văn Siêu cho rằng cần phải tập trung vào ba yếu tố “An toàn, mở, đồng bộ.” An toàn cho người dân, tạo niềm tin cho khách “xê dịch” trở lại. Không có gì tốt cho doanh nghiệp du lịch lúc này bằng việc mở cho doanh nghiệp hoạt động. Muốn vậy cần sự tham gia đồng bộ của ngành y tế và các ngành liên quan với du lịch. Đơn cử như hàng không phải được bay thường lệ, cửa khẩu phải mở. Ngành ngoại giao và hàng không cần liên minh với ngành du lịch. Theo ông Siêu, không nên “cách ly” mà theo dõi sức khỏe của khách và xây dựng các phương án xử lý phù hợp. Đoàn khách quốc tế đầu tiên trở lại Phú Quốc. Ảnh CTV/Vietnam+ “Du lịch chỉ phục hồi khi mang thị trường cho doanh nghiệp, mang khách đến cho điểm đến. Muốn mở phải đồng bộ. Giữa các địa phương phải mở liên thông, không thể cát cứ, nơi làm thế này, nơi làm thế kia. Giữa các bộ, ngành như y tế, giao thông, ngoại giao, công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải quy định thông suốt, nhất quán,” ông Siêu nhấn mạnh. Trước câu hỏi của ông Võ Chí Thành, Chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam, bà Nguyễn Thị Cúc khẳng định thuế chính là nguồn lực để phát triển. Bà Cúc nêu ví dụ về thuế đất, Chính phủ đã có Quyết định 27 giảm tiền thuế đất trong năm 2021. “Các doanh nghiệp đang kiến nghị tiếp tục giảm đến năm 2023 và chúng tôi rất đồng thuận. Bên cạnh đó, diện tích xây dựng dành cho du lịch hiện chỉ có 25% nhưng tiền thuê đất, kể cả đất để trống lại như nhau nên chúng tôi cũng đồng tình việc cần phân định rõ đất dành cho xây dựng, đất lưu không,” bà Cúc nói. Trong khi đó, liên quan đến thuế giá trị gia tăng, bà Cúc phân tích khó khăn như vậy nhưng doanh nghiệp chỉ được giảm 2 tháng thì không phù hợp, đề nghị giảm đến hết năm 2023. Bởi thực tế, việc giảm thuế sẽ góp phần lớn vào hỗ trợ giảm giá bán, giá thành sản phẩ... Bên cạnh đó, cần hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách quốc tế đến Việt Nam dễ dàng nhất tại điểm mua hàng đã được cơ quan chức năng cho phép. Từ đó, kích thích tiêu dùng của khách du lịch ở Việt Nam. “Hiện chúng ta đã giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng chúng tôi đề xuất đưa du lịch vào danh mục ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo cú hích cho ngành du lịch đồng thời miễn luôn thuế của phí phục vụ cho ngành du lịch. Các loại phí khác cũng nên xem xét lại cho doanh nghiệp du lịch phát triển,” bà Cúc đề xuất. Đảm bảo phòng dịch cho khách quốc tế trở lại Việt Nam. Ảnh CTV/Vietnam+ Giải pháp nào trong bối cảnh mới? Theo Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Hà Văn Siêu, cần tập trung cơ cấu lại theo xu hướng mới, doanh nghiệp tái đầu tư, chính quyền hỗ trợ cơ cấu lại. Điểm đến phải “sạch,” phải thiên nhiên, phải “khỏe” để đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người dân; sản phẩm đa dạng, trải nghiệm sâu, không đe dọa bởi sự đại trà, đông đúc. Bên cạnh đó, cần khai thác yếu tố văn hóa trong du lịch, đầu tư cho văn hóa để kích thích du lịch. Ngoài ra, khai thác kinh tế đêm, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn. Đặc biệt, để du lịch Việt Nam vượt “đỉnh đáy” khó khăn, từng bước phục hồi và tiếp tục phát triển trong bối cảnh mới, Thứ trưởng Đoàn Văn Việt đề xuất một số giải pháp. Trong đó, kiến nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo tập trung thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển du lịch trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội năm 2022- 2023, tạo đà cho nền kinh tế xanh phục hồi và đóng góp ngày càng hiệu quả cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Theo Thứ trưởng, cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, lao động ngành du lịch vượt khó, giảm bớt sự tan rã hệ thống đã được củng cố từ nhiều năm nay; chỉ đạo ban hành các cơ chế, chính sách mới, tạo thuận lợi cho ngành du lịch tiếp tục phát triển hạ tầng du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách quốc tế đến Việt Nam visa, xét duyệt nhân sự nhập cảnh tại chỗ, tăng thời gian miễn thị thực...; cho phép thành lập văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài. Đồng tính với ý kiến của ông Hà Văn Siêu, ông Đoàn Văn Việt khẳng định cần đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển các sản phẩm du lịch ban đêm, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe, du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, du lịch trải nghiệm cộng đồng hướng tới phát triển bền vững...; Vinpearl Safari Phú Quốc. Ảnh CTV/Vietnam+ Ngoài ra, trong bối cảnh mới, cần đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển công nghệ liên quan đến du lịch nhằm tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vận hành, quản lý, tăng cường sáng tạo các sản phẩm du lịch độc đáo, đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới; thúc đẩy xu hướng du lịch hạn chế tiếp xúc thông qua tăng cường ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong phục vụ du lịch; liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ trong sáng tạo và đưa ra các giải pháp công nghệ phục vụ du lịch an toàn; xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn bình thường mới… Thứ trưởng cho rằng thời điểm này, khi tình hình dịch bệnh ở Việt Nam đã và đang dần được kiểm soát nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã sẵn sàng các phương án tái khởi động, phục hồi du lịch nội địa, hướng tới chính thức mở cửa hoàn toàn cho khách quốc tế dự kiến vào giữa năm 2022. “Kịch bản lạc quan về một tương lai sống chung với COVID-19 hoàn toàn có thể xảy ra và khi ấy, nhu cầu du lịch của con người chắc chắn sẽ tăng mạnh. Chính vì thế, du lịch Việt Nam sẽ nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tận dụng mọi cơ hội để phục hồi trong bối cảnh mới, thích ứng an toàn, trở thành điểm đến uy tín và có vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế,” Thứ trưởng Đoàn Văn Việt khẳng định. Clip du lịch Việt Nam phục hồi và phát triển
Nguyên tắc phát triển ngành du lịch ? Vai trò của ngành du lịch ? Chính sách phát triển ngành du lịch ? Sự phát triển nhanh gọn của ngành du lịch Việt Nam đã mang lại những thành tựu to lớn trong nghành phát triển kinh tế tài chính – xã hội của nước ta và góp thêm phần đưa Việt Nam trở thành một điểm du lịch quan trọng được nhiều hành khách quốc tế biết đến. Cùng với đà tăng trưởng nhanh gọn và những hiệu quả đạt được, tầm quan trọng của sự phát triển vững chắc ngành du lịch được ghi nhận là yếu tố thiết yếu để mang lại sự thành công xuất sắc cũng như những quyền lợi trong tương lai. Trong khi phát triển du lịch bền vững là định hướng quan trọng trong chính sách của nước ta hiện nay, thì việc đưa các nguyên tắc phát triển du lịch có trách nhiệm vào hành động được coi là con đường để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi xin chia sẻ tới bạn đọc nguyên tắc, vai trò và chính sách phát triển ngành du lịch. Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài 1. Nguyên tắc phát triển ngành du lịch 2. Vai trò của ngành du lịch Vai trò của du lịch trong nền kinh tế Vai trò du lịch đối với sự phát triển của xã hội 3. Chính sách phát triển ngành du lịch 1. Nguyên tắc phát triển ngành du lịch Muốn bảo vệ việc phát triển du lịch vững chắc thì việc tuân thủ những nguyên tắc của phát triển bền vững và kiên cố là điều thiết yếu, giúp ngành Du lịch phát triển bền vững và kiên cố trong tương lai, đơn cử gồm có 10 nguyên tắc sau Khai thác sử dụng nguồn lực một cách hợp lý Nguồn lực được hiểu là toàn diện và tổng thể vị trí địa lí, tài nguyên vạn vật thiên nhiên, mạng lưới hệ thống gia tài vương quốc, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường … ở cả trong nước và ngoài nước hoàn toàn có thể khai thác được, nhằm mục đích ship hàng cho việc phát triển ngành du lịch. Để bảo vệ cho sự phát triển lâu dài hơn, khai thác Giao hàng hoạt động giải trí du lịch thì việc sử dụng, bảo tồn vững chắc tài nguyên vạn vật thiên nhiên văn hóa truyền thống xã hội là rất là thiết yếu. Ngành du lịch cần ngăn ngừa sự phá hoại tới những nguồn tài nguyên vạn vật thiên nhiên, môi trường tự nhiên, nhân văn, cạnh bên đó phát triển và thực thi chính sách môi trường tự nhiên hài hòa và hợp lý trên những nghành nghề dịch vụ của du lịch, triển khai lắp ráp những thiết bị giảm thiểu ô nhiễu không khí, nguồn nước … Ngoài ra, cần thực thi nguyên tắc tôn trọng những nhu yếu của người dân địa phương cũng như bảo vệ và ủng hộ việc thừa kế di sản văn hóa truyền thống dân tộc bản địa trên quốc tế, triển khai tiến hành những hoạt động giải trí du lịch có nghĩa vụ và trách nhiệm và đạo đức và nhất quyết tiêu diệt những hoạt động giải trí du lịch trái thuần phong mỹ tục. Giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên Việc tiêu thụ tài nguyên vạn vật thiên nhiên ở mức vừa đủ ngoài việc giúp cho tài nguyên vạn vật thiên nhiên có thời hạn hồi sinh thì còn giúp giảm chất thải ra môi trường tự nhiên từ đó sẽ tránh nhiều phí tổn cho việc hồi sinh môi trường tự nhiên, góp thêm phần tăng chất lượng của du lịch . Xem thêm Phát triển du lịch bền vững là gì? Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam? Theo đó, ngành du lịch cần phải khuyến khích giảm thiểu việc tiêu thụ không đúng đắn của hành khách, ưu tiên việc sử dụng những nguồn lực địa phương, giảm rác thải và bảo vệ rác thải bảo đảm an toàn do hành khách xả ra. Bên cạnh đó cần tương hỗ, góp vốn đầu tư hạ tầng cho địa phương, những dự án Bất Động Sản tái chế rác thải, có nghĩa vụ và trách nhiệm phục sinh tổn thất qua công tác làm việc quy hoạch du lịch tạo ra. Duy trì tính đa dạng thiên nhiên, xã hội và nhân văn Cần phải trân trọng tính phong phú của vạn vật thiên nhiên, xã hội và môi trường tự nhiên của điểm du lịch, bảo vệ nhịp độ, quy mô và mô hình phát triển du lịch, để bảo vệ tính phong phú của văn hóa truyền thống địa phương. Đồng thời phòng ngừa tôn trọng sức chứa của mỗi vùng, giám sát ngặt nghèo những hoạt động giải trí du lịch so với động thực vật, thực thi việc lồng ghép những hoạt động giải trí du lịch vào những hoạt động giải trí của hội đồng dân cư và ngăn ngừa sự sửa chữa thay thế những ngành nghề truyền thống lịch sử truyền kiếp bằng những ngành nghề văn minh, khuyến khích những đặc tính riêng của từng vùng, từng miền. Ngoiaf ra, cũng cần phát triển du lịch tương thích với văn hóa truyền thống địa phương, nhu yếu của sự phát triển nhằm mục đích bảo vệ quy mô, quá trình của những mô hình du lịch. Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch tổng thể của kinh tế xã hội Sự sống sót lâu bền hơn của ngành du lịch phải nằm trong khuôn khổ kế hoạch của vương quốc, vùng, địa phương về kinh tế tài chính – xã hội. Chính vì thế, để bảo vệ sự phát triển vững chắc, ngành du lịch cần phải chăm sóc đến nhu yếu của người dân và cả hành khách, trong việc quy hoạch du lịch cần phải thống nhất về những mặt kinh tế tài chính – xã hội, thiên nhiên và môi trường và tôn trọng kế hoạch của vương quốc, vùng, chủ quyền lãnh thổ, địa phương, thực thi phát triển ngành du lịch lồng ghép trong kế hoạch chung, lấy kế hoạch tổng thể và toàn diện làm xu thế phát triển cho toàn ngành. Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế cho địa phương Phát triển vững chắc ngành du lịch không phải chỉ riêng nó mà còn kéo theo nhiều nghành nghề dịch vụ khác, trong nghành du lịch, việc tương hỗ cho những ngành nghề khác không chỉ những doanh nghiệp lớn mà những doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đơn vị chức năng được tương hỗ nhiều, dẫn đến tương hỗ kinh tế tài chính cho địa phương. Hay nói cách khác, ngành du lịch làm nền cho sự đa dạng hóa kinh tế tài chính bằng hoạt động giải trí trong nhiều nghành nghề dịch vụ, việc góp vốn đầu tư cho du lịch không chỉ là việc góp vốn đầu tư cho loại sản phẩm du lịch, khu dự án Bất Động Sản, mà còn là sự góp vốn đầu tư cho sơ sở hạ tầng du lịch, hạ tầng địa phương nhằm mục đích mang lại quyền lợi cho nhiều thành phần kinh tế tài chính. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển bền vững du lịch Xem thêm Tham quan du lịch là gì? Các loại hình tham quan du lịch? Việc tham gia của hội đồng dân cư địa phương là một tác nhân quan trọng gớp phần bảo vệ cho việc phát triển du lịch bền vững và kiên cố. Khi hội đồng dân cư địa phương được tham gia vào quy trình phát triển du lịch, họ sẽ tạo ra nhiều điều kiện kèm theo thuận tiện cho du lịch, vì họ có nghĩa vụ và trách nhiệm với chính tài nguyên và môi trường tự nhiên khu vực. Do đó, cơ quan quản trị du lịch phải tôn trọng nhu yếu và nguyện vọng của hội đồng dân cư địa phương, phải ủng hộ quan điểm hội đồng dân cư địa phương trong phát triển của chính họ, khuyến khích họ tham gia vào những dự án Bất Động Sản, những hoạt động giải trí cho phát triển du lịch. Ngoài ra, cần ủng hộ những doanh nghiệp tham gia những dự án Bất Động Sản, xử lý những khó khăn vất vả cho dân cư địa phương và hợp tác với người dân nhằm mục đích cung ứng sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ của chính họ cho hành khách từ đó góp thêm phần vào phát triển du lịch của địa phương. Lấy ý kiến của nhân dân và các đối tượng có liên quan Việc trao đổi giữa ngành Du lịch, hội đồng, cơ quan có thẩm quyền tương quan rất thiết yếu nhằm mục đích giải tỏa những xích míc trong quy trình thực thi những bước của phát triển du lịch. Thực hiện lồng ghép những quyền lợi của những bên nhằm mục đích mục tiêu hài hòa về quyền lợi trong quy trình thực thi dựa trên việc tìm hiểu thêm quan điểm của những bên tương quan và hội đồng dân cư, những tổ chức triển khai trong và ngoài nước, phi chính phủ, cơ quan chính phủ với những quan điểm cho dự án Bất Động Sản, cho khu công trình phát triển du lịch bền vững và kiên cố. Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm vô cùng thiết yếu trong việc phát triển du lịch. Một lực lượng lao động được huấn luyện và đào tạo kỹ năng và kiến thức thành thạo sẽ mang lại quyền lợi về kinh tế tài chính cho ngành và góp thêm phần nâng cao chất lượng mẫu sản phẩm du lịch. Để triển khai điều đó, cần chú ý quan tâm về nguồn nhân lực địa phương trong khâu tuyển dụng, cần chú trọng trong đào tạo và giảng dạy trình độ, lồng ghép những yếu tố thiên nhiên và môi trường, xã hội trong công tác làm việc huấn luyện và đào tạo, nâng cao nhận thức cho cán bộ, học viên, người dân tham gia vào hoạt động giải trí du lịch về truyền thống văn hóa truyền thống, sự độc lạ mẫu sản phẩm văn hóa truyền thống tại địa phương mình. Ngoài ra, cần tương hỗ cho những cơ sở giáo dục bằng doanh thu san sẻ từ nghành nghề dịch vụ du lịch. Tiếp thị ngành Du lịch một cách có trách nhiệm Xem thêm Khách đoàn là gì? Có nên tham gia tour du lịch theo đoàn? Cần tận dụng sức mạnh to lớn từ internet, những công cụ tìm kiếm, sự bùng nổ của mạng xã hội và những thiết bị mưu trí để thực thi tiếp thị, cung ứng những thông tin rất đầy đủ cho hành khách qua những phương tiện đi lại thông tin báo, đài, internet …. Tuy nhiên, thông tin tiếp thị về du lịch cần phải được sàng lọc và kiểm duyệt trước khi đưa ra công chúng nhằm mục đích giúp tương tác với hành khách trên toàn thế giới được hiệu suất cao hơn. Coi trọng công tác nghiên cứu khoa học ngành Du lịch Các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến về du lịch trong thời hạn qua đã trở thành những nền tảng khoa học quan trọng với tính ứng dụng vào thực tiễn cao, góp thêm phần phát triển ngành công nghiệp du lịch, giúp du lịch trở thành một ngành kinh tế tài chính chuyên nghiệp, văn minh và vững chắc. Hoạt động nghiên cứu và điều tra khoa học đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiến thiết xây dựng kế hoạch, quy hoạch, kế hoạch, giảng dạy và thực thi hoạt động giải trí phát triển du lịch vững chắc. 2. Vai trò của ngành du lịch Du lịch giúp cho con người nâng cao hiểu biết, nâng cao chất lượng những mối quan hệ xã hội từ đó giúp mang lại đời sống niềm hạnh phúc và thành công xuất sắc hơn. Vai trò của du lịch trong nền kinh tế Ở nhiều Quốc gia, ngành du lịch góp phần một phần đáng kể trong tổng thu nhập hàng năm, đặc biệt quan trọng tại Việt Nam du lịch được nhìn nhận là một trong 3 ngành kinh tế tài chính mũi nhọn được nhà nước chú trọng góp vốn đầu tư về hạ tầng và ngành du lịch cũng không ngừng phát triển, góp phần rất lớn và nền kinh tế tài chính quốc gia. Du lịch phát triển cũng góp thêm phần tương hỗ những ngành giao thông vận tải vật tại, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ kinh tế tài chính, dịch vụ siêu thị nhà hàng và nghỉ ngơi. Ngoài ra ngành du lịch phát triển còn mang lại thị trường tiêu thụ văn hóa truyền thống to lớn góp thêm phần thôi thúc tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế tài chính quốc dân. Vai trò du lịch đối với sự phát triển của xã hội Ở những vùng cao, ngành du lịch phát triển đã tạo ra nhiều thời cơ việc làm cho người dân nông thôn, tạo ra những chuyển biến tích cực xã hội, nâng cao mức sống. Ngành du lịch đã giúp tạo thời cơ việc làm lớn cho người lao động, đặc biệt quan trọng là lao động nữ. Ngành du lịch góp thêm phần làm giảm quy trình đô thị hoá, cân đối lại sự phân bổ dân cư, hạ tầng từ đô thị về nông thôn, từ đó giảm gánh nặng những xấu đi do đô thị hoá gây ra. Đồng thời ngành du dịch cũng là phương pháp tiếp thị văn hoá, phong tục tập quán hiệu suất cao của con người Việt Nam đến bè bạn quốc tế . Xem thêm Du lịch nội địa là gì? Vai trò và lợi ích của du lịch nội địa? 3. Chính sách phát triển ngành du lịch Chính sách phát triển ngành du lịch của Nhà nước ta đã được pháp luật rõ trong Luật du lịch 2017, đơn cử “Điều 5. Chính sách phát triển du lịch 1. Nhà nước có chính sách kêu gọi mọi nguồn lực cho phát triển du lịch để bảo vệ du lịch trở thành ngành kinh tế tài chính mũi nhọn của quốc gia. 2. Tổ chức, cá thể kinh doanh thương mại du lịch được hưởng mức tặng thêm, tương hỗ góp vốn đầu tư cao nhất khi Nhà nước phát hành, vận dụng những chính sách về khuyễn mãi thêm và tương hỗ góp vốn đầu tư. 3. Nhà nước ưu tiên sắp xếp kinh phí đầu tư cho những hoạt động giải trí sau đây a Điều tra, nhìn nhận, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch ; b Lập quy hoạch về du lịch ; c Xúc tiến du lịch, kiến thiết xây dựng tên thương hiệu du lịch vương quốc, địa phương ; d Xây dựng kiến trúc ship hàng phát triển du lịch. 4. Nhà nước có chính sách khuyến khích, tương hỗ cho những hoạt động giải trí sau đây a Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao ; b Nghiên cứu, khuynh hướng phát triển mẫu sản phẩm du lịch ; c Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch ; d Đầu tư phát triển mẫu sản phẩm du lịch mới có ảnh hưởng tác động tích cực tới thiên nhiên và môi trường, lôi cuốn sự tham gia của hội đồng dân cư ; góp vốn đầu tư phát triển mẫu sản phẩm du lịch biển, hòn đảo, du lịch sinh thái xanh, du lịch hội đồng, du lịch văn hóa truyền thống và mẫu sản phẩm du lịch đặc trưng khác ; đ Ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến tân tiến Giao hàng quản trị và phát triển du lịch ; e Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch; sử dụng nhân lực du lịch tại địa phương; g Đầu tư hình thành khu dịch vụ du lịch phức tạp, có quy mô lớn ; mạng lưới hệ thống shop miễn thuế, TT shopping Giao hàng khách du lịch. 5. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện kèm theo thuận tiện về đi lại, cư trú, thủ tục xuất cảnh, nhập cư, hải quan, hoàn thuế giá trị ngày càng tăng và bảo vệ quyền, quyền lợi hợp pháp khác cho khách du lịch. ” Theo đó, Nhà nước Việt Nam chú trọng phát triển ngành du lịch dựa trên 5 chính sách chính gồm có chính sách kêu gọi mọi nguồn lực cho phát triển du lịch để bảo vệ du lịch trở thành ngành kinh tế tài chính mũi nhọn của quốc gia ; chính sách về khuyến mại và tương hỗ góp vốn đầu tư tổ chức triển khai, cá thể kinh doanh thương mại du lịch ; chính sách ưu tiên về kinh phí đầu tư cho những hoạt động giải trí tìm hiểu, nhìn nhận, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch, lập quy hoạch về du lịc ; chính sách khuyến khích, tương hỗ cho những hoạt động giải trí góp vốn đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao, điều tra và nghiên cứu, xu thế phát triển loại sản phẩm du lịch, đào tạo và giảng dạy và phát triển nguồn nhân lực du lịch, … và chính sách tạo điều kiện kèm theo thuận tiện về đi lại, cư trú, thủ tục xuất cảnh, nhập cư, hải quan, hoàn thuế giá trị ngày càng tăng và bảo vệ quyền, quyền lợi hợp pháp khác cho khách du lịch.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch VHTTDL vừa ký Quyết định 2292/QĐ-BVHTTDL ban hành Chương trình hành động phát triển du lịch giai đoạn 2021 - 2025, trong đó chú trọng nhiệm vụ chuyển đổi số trong toàn ngành du lịch. Triển khai chương trình hành động phải quyết liệt, chủ động, thực chất và hiệu quảChương trình hành động phát triển du lịch giai đoạn 2021- 2025 nhằm cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng được nêu tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu được nêu tại Nghị quyết số 50/NQ-CP trong lĩnh vực du lịch. Xác định các nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên phát triển du lịch Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2025 để thực hiện hiệu quả các mục tiêu, định hướng phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025 phù hợp với tình hình thực tiễn. Tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong nhận thức và hành động của toàn ngành du lịch, các ngành liên quan, các địa phương, doanh nghiệp và người dân để tập trung phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, từng bước đưa Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế triển khai Chương trình hành động phải quyết liệt, chủ động, thực chất và hiệu quả; phối hợp chặt chẽ, thường xuyên của các cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình triển khai và căn cứ các nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình hành động, các đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch thực hiện bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trong lĩnh vực du lịchĐối với các nhiệm vụ trọng tâm do Bộ VHTTDL chủ trì, Bộ VHTTDL sẽ thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển du lịch trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và tổ chức sơ kết 05 năm thực dựng Kế hoạch hành động của ngành du lịch triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm VHTTDL cũng trình Chính phủ ban hành Nghị định về mô hình quản lý khu du lịch quốc gia trong năm 2021 và triển khai thực hiện sau khi được ban hành; hướng dẫn địa phương xây dựng quy định về mô hình quản lý khu du lịch cấp tỉnh, điểm du lịch. Hoàn thành lập "Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050" trình Chính phủ phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện Quy dựng Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ an toàn, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, môi trường và dịch bệnh tại các khu, điểm du dựng, ban hành quy định và hướng dẫn áp dụng một số mô hình kinh tế mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế chia sẻ, kinh tế du lịch ban đêm, kinh tế tuần hoàn; tiêu chuẩn, quy định quản lý đối với kinh doanh loại hình du lịch chăm sóc sức khoẻ, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch mạo hiểm và một số loại hình du lịch toàn tổ chức, bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; thống nhất, kiện toàn mô hình tổ chức quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp xúc tiến quảng bá du lịch của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung xuất ban hành chính sách ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp du lịch và hỗ trợ nguồn lực cho người dân tham gia phát triển du lịch cộng đồng, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Xây dựng kế hoạch trung hạn và dài hạn, đảm bảo triển khai có hiệu quả hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch...Điểm đến Phú Quốc, Kiên Giang. Ảnh minh họaỨng dụng khoa học và công nghệ hiện đại, chuyển đổi số toàn ngành du lịchVới nhiệm vụ ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại, công nghệ số, Chương trình yêu cầu phải chú trọng thực hiện chuyển đổi số trong toàn ngành du lịch, góp phần hoàn thành mục tiêu "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030".Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch; thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại và số hóa tài nguyên du lịch Việt Nam; hình thành hệ thống thông tin số về khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở dịch vụ du lịch; xây dựng hệ thống thông tin số về thị trường du lịch Việt Nam; thống nhất công tác thống kê du lịch ở Trung ương và địa dựng và triển khai các đề án, dự án phát triển du lịch thông minh, mô hình quản lý điểm đến du lịch thông minh; ứng dụng công nghệ hiện đại vào phát triển các phần mềm, tiện ích thông minh hỗ trợ công tác quản lý và phục vụ khách du lịch; hỗ trợ doanh nghiệp du lịch kết nối, đổi mới sáng tạo trong hoạt động kinh doanh du cường ứng dụng công nghệ xanh, sạch trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ và cơ sở lưu trú du tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch, Bộ VHTTDL đề xuất Chính phủ ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng giao thông kết nối của một số khu du lịch quốc gia tại các khu vực động lực phát triển du lịch; Các tỉnh/thành phố nằm trong khu vực động lực phát triển du lịch có khu du lịch quốc gia chủ động đề xuất, bố trí nguồn lực đầu tư, đáp ứng yêu cầu phát triển khu du lịch quốc xuất Chính phủ chú trọng đầu tư hạ tầng kết nối giao thông quan trọng như hạ tầng đường bộ ven biển, đường biển; hạ tầng sân bay, kết nối các đường bay quốc tế, giờ bay phù hợp đến các tỉnh phát triển du lịch; đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kết nối giữa các vùng và hạ tầng của một số vùng khó khăn như miền núi phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, tạo thuận lợi cho phát triển du lịch. Đề xuất Chính phủ và các địa phương ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại các địa phương có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển du lịch cộng đồng tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung - Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch để hình thành các cụm du lịch đồng bộ, chất lượng, có quy mô lớn, đẳng cấp quốc triển các sản phẩm du lịch chủ đạo theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, có thương hiệuTập trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của mỗi địa phương và mỗi vùngVề nhiệm vụ phát triển sản phẩm du lịch và quản lý chất lượng dịch vụ du lịch, Chương trình đề ra mục tiêu phát triển các sản phẩm du lịch chủ đạo theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, có thương hiệu và sức cạnh tranh cao du lịch văn hoá; du lịch sinh thái, du lịch đô thị; du lịch nghỉ dưỡng cao cấp; thí điểm phát triển sản phẩm du lịch tới các đảo xa trung phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của mỗi địa phương, mỗi vùng, phù hợp với lợi thế tài nguyên du lịch, đảm bảo kết nối với hệ thống sản phẩm du lịch của vùng và quốc gia. Đặc biệt, ưu tiên khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa đặc trưng, nổi trội của mỗi địa phương, ưu tiên công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá, lịch sử, truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững; chú trọng khai thác thế mạnh ẩm thực đa dạng, đặc sắc của từng địa phương, từng vùng để hình thành sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, có lợi thế cạnh tranh, góp phần tạo dựng thương hiệu nổi bật của từng địa phương, từng trợ phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn; du lịch công nghiệp; du lịch chăm sóc sức khoẻ; du lịch cộng đồng gắn với các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc; phát triển sản phẩm, dịch vụ du lịch về đêm tại các đô thị, trung tâm du lịch, các khu du lịch, điểm du lịch đông khách du lịch; phát triển các loại hình du lịch thể thao có tiềm năng, thế mạnh phát triển tại Việt khích phát triển du lịch theo mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn tại các khu du lịch, điểm du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm chất lượng dịch vụ du lịch tại các khu du lịch, điểm du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du hỗ trợ doanh nghiệp du lịch phục hồi, phát triển trong bối cảnh tác động của đại dịch COVID-19, Bộ VHTTDL đề xuất ban hành và triển khai kịp thời các giải pháp về cơ chế, chính sách tài chính, tín dụng hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế, cho vay ưu đãi, giãn nợ, khoanh nợ…, chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nhân lực để hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng, người dân tham gia kinh doanh du lịch duy trì hoạt động, vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch. Hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng và người dân tham gia kinh doanh du lịch đổi mới mô hình kinh doanh, phát triển sản phẩm mới, xúc tiến quảng bá du lịch, phục hồi và phát triển thị trường du lịch. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực du lịch; đề xuất giảm phí, lệ phí các thủ tục, giảm tiền ký quỹ kinh doanh đối với các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thị trường lao động du lịch bền vững, Bộ VHTTDL xây dựng, triển khai Chương trình điều tra, đánh giá tổng thể nguồn nhân lực du lịch Việt Nam và Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao của Việt Nam đến năm 2025. Chú trọng nâng cao chất lượng nhân lực du lịch của các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ. Xây dựng, triển khai Chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho lực lượng lao động nghề du lịch. Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ nhân lực tham mưu quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương, nhân lực quản trị doanh nghiệp du lịch. Quan tâm giữ lực lượng lao động du lịch chuyên nghiệp, bổ sung, đào tạo nguồn nhân lực du lịch bị thiếu hụt lớn và chất lượng giảm do ảnh hưởng của đại dịch trung phát triển mạnh thị trường du lịch nội địaVề phát triển thị trường, tăng cường xúc tiến, quảng bá và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về du lịch, Bộ VHTTDL sẽ tập trung phát triển mạnh thị trường du lịch nội địa; nghiên cứu kinh nghiệm các nước về áp dụng mô hình bong bóng du lịch, hộ chiếu vắc xin, đề xuất thiết lập cơ chế hợp tác trao đổi khách quốc tế với các quốc gia kiểm soát tốt dịch bệnh để dần phục hồi và phát triển thị trường khách quốc tế. Xây dựng Chiến lược marketing du lịch Việt Nam đến năm 2030; triển khai các chiến dịch xúc tiến, quảng bá du lịch tại các thị trường trọng điểm phù hợp với xu hướng mới của thị trường. Đa dạng hóa các phương thức, công cụ xúc tiến quảng bá, chú trọng triển khai các hoạt động e-marketing. Hỗ trợ các địa phương tiếp cận đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch trên các kênh truyền thông quốc tế. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các cam kết, ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác quốc tế về du lịch; tận dụng lợi thế các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam là thành viên để phát triển du lịch. Tập trung triển khai các hoạt động hợp tác phát triển du lịch trong ASEAN về quản lý du lịch an toàn, hỗ trợ phục hồi du lịch trong tình hình mới; triển khai các dự án hợp tác phát triển du lịch và tranh thủ khai thác các nguồn lực quốc tế để phát triển du trình cũng đề ra một số nhiệm vụ phối hợp thực hiện với các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.../.
Sở Du lịch TPHCM đề xuất 7 giải pháp ứng phó, phát triển ngành du lịch; khách tham quan và doanh thu du lịch Đồng Tháp giảm mạnh vì Covid-19; du lịch Kiên Giang chủ động phòng chống dịch là một số tin tức du lịch nổi bật các tỉnh Nam Bộ hôm nay Sở Du lịch TPHCM đề xuất 7 giải pháp ứng phó, phát triển ngành du lịch trong điều kiện dịch bệnh Covid-19Thành phố Hồ Chí Minh là điểm đến du lịch lớn nhất Việt Nam. Trong những năm gần đây, ngành du lịch của Thành phố đã trải qua sự tăng trưởng liên tục và đa dạng hóa sâu rộng để trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất. Từ tháng 01 đến tháng 02 năm 2020, lượng khách du lịch đến Thành phố Hồ Chí Minh đã có sự sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019 do ảnh hưởng từ sự bùng phát dịch bệnh Covid-19 tại Trung Quốc và các quốc gia trên thế giới cũng như những chính sách quyết liệt trong ứng phó với dịch tại Việt Nam. Trong tháng 01 và tháng 02/2020, trung bình lượng khách và doanh thu của các công ty lữ hành giảm từ 50 – 60% so với cùng kỳ năm trước, đến tháng 3 năm 2020, lượng khách và doanh thu của các công ty lữ hành liên tục giảm. Đặc biệt có một số công ty lượng khách và doanh thu giảm 95% đến 100% so với cùng kỳ năm trước theo số liệu báo cáo của các doanh nghiệp lữ hành còn tổ chức khách du lịch. Hiện nay, có đến 90% doanh nghiệp lữ hành vừa và nhỏ đã tạm ngưng hoạt động, một số doanh nghiệp lớn vốn tư nhân chỉ bố trí nhân sự trực tại công ty, doanh nghiệp vốn nhà nước cũng hoạt động cầm chừng. Nhân viên được cho nghỉ không hưởng lương đến khi hết dịch COVID-19 sẽ đi làm lại. Ảnh minh họa - Nguồn Sài Gòn Đầu TưTheo báo cáo của 25 cơ sở lưu trú du lịch cao cấp thì tình hình kinh doanh của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng ăn uống và cơ sở mua sắm giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019, cụ thể doanh thu từ các cơ sở lưu trú du lịch giảm 58,29%; kinh doanh hội nghị giảm 60,8%; Kinh doanh nhà hàng, tiệc và kinh doanh khác giảm 60,1%; số lao động nghỉ việc và tạm thời ngừng việc chiếm tỷ lệ cao. Tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn thành phố các điểm tham quan du lịch đã tạm ngưng phục vụ khách du lịch do ảnh hưởng của dịch tình hình trên, Sở Du lịch TPHCM đưa ra 7 đề xuất giải pháp ứng phó, phát triển ngành du lịch thành phố trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 như sau tục thực hiện trong ngành du lịch thành phố các biện pháp phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút Covid-19 gây ra, bảo đảm an toàn cho khách du lịch, góp phần cùng với thành phố và cả nước thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh theo Kế hoạch số 130/KH-SDL ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Sở Du lịch về phòng chống dịch bệnh Covid-19 trong lĩnh vực du lịch. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Sở Y tế và hệ thống các cơ sở kinh doanh lưu trú trên địa bàn để hỗ trợ trong công tác xác minh các ca tiếp xúc gần với ca đã có kết quả dương tính; các trường hợp nghi ngờ nhiễm Công tác hỗ trợ doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố tháo gỡ khó khăn, chuẩn bị chính sách thúc đẩy du lịch phát triển ngay sau khi dịch bệnh kết thúcTiếp tục rà soát, đánh giá tình hình thiệt hại do ảnh hưởng dịch bệnh của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và đề xuất Ủy ban nhân dân thành phố giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ duy trì hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp trong đó tập trung các nhóm giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp du lịch, như đề nghị giãn thuế, giãn thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế, cho phép chậm nộp các loại thuế…; đề nghị Ngân hàng Nhà nước khẩn trương thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp lĩnh vực du lịch.Nghiên cứu các kịch bản kịp thời để chuẩn bị khôi phục du lịch sau khi dịch bệnh được kiểm soát tốt và có những giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch; hỗ trợ cho công tác quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực du lịch… để các doanh nghiệp du lịch, cơ sở lưu trú, vận chuyển, mua sắm, ẩm thực phục hồi, ổn định sản xuất kinh doanh, tiếp tục đầu tư năng cao chất lượng sản phẩm du lịch phục vụ khách du Triển khai chương trình kích cầu du lịch, phát triển các sản phẩm du lịch mới và nâng chất các sản phẩm du lịch hiện tại như du lịch y tế, du lịch đường thủy, du lịch lịch sử, văn hóa nghệ thuật và ẩm Hoàn thành, công bố Chiến lược phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đến 2030 và chuẩn bị lộ trình các bước triển khai trong đó có những kế hoạch trọng tâm trong năm 2021 nhằm phục hồi ngành du lịch của Thành phố sau dịch. Thành lập Hội đồng phát triển du Chuẩn bị cho chiến lược quảng bá và xúc tiến du lịch thành phố với kế hoạch truyền thông và xúc tiến sâu, rộng, với các phương thức mới đến các thị trường trọng điểm quốc tế và trong nước, đặc biệt ứng dụng các hình thức truyền thông trực tuyến. Nghiên cứu các thị trường ít chịu ảnh hưởng của Covid-19 và tiềm năng cho thị trường du lịch Thành phố để đặt trọng tâm các hoạt động quảng bá và xúc tiến. Tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố các giải pháp về xây dựng Đề án Du lịch thông minh nhằm tối ưu hóa hiệu quả công tác xúc tiến, quảng bá và mở rộng thị trường, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn để thu hút khách du lịch. Đồng thời, tiếp tục khai thác các ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá online để thực hiện công tác tuyên truyền, phòng chống dịch bệnh Covid-19. Nghiên cứu, thực hiện số hóa các điểm đến điểm du lịch trên địa bàn thành phố bằng giao diện ảnh 360, 3D, công nghệ thực tế ảo... để tăng cường ứng dụng công nghệ trong tuyên truyền quảng bá du lịch… 6. Triển khai hiệu quả liên kết sản phẩm vùng với 13 tỉnh, thành Đồng bằng sống Cửu Long và các tỉnh, thành Đông Nam bộ. Theo đó, phát huy vai trò then chốt của các doanh nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp dịch vụ du lịch, các hiệp hội du lịch trong việc xây dựng các sản phẩm, chương trình du lịch liên kết thực sự hấp dẫn, độc đáo, khác biệt của mỗi địa phương và của cả vùng; đồng thời, thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tư vào du lịch, tạo cơ hội hợp tác, liên kết phát triển của các doanh nghiệp địa phương. 7. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính Tiếp tục nâng cấp cổng thông tin điện tử Sở Du lịch, thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, trả hồ sơ qua dịch vụ bưu chính công ích; triển khai phần mềm trực tuyến nhằm cung cấp các thông tin về du lịch, tiếp nhận những ý kiến góp ý, phản ánh của người dân, doanh nghiệp liên quan đến các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Sở Du lịch cũng như các ý kiến góp ý, phản ánh liên quan đến ngành du lịch; triển khai phần mềm chuyên ngành nhằm nâng cao hiệu quả xử lý thủ tục hành chính. Khách tham quan và doanh thu du lịch Đồng Tháp giảm mạnh vì Covid-19 Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Tháp, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên lượng khách và doanh thu du lịch DL quý I/2020 giảm mạnh so với cùng đầu năm 2020 đến nay, các doanh nghiệp DL, lữ hành, cơ sở lưu trú, khu di tích, điểm tham quan trên địa bàn chú trọng công tác phát triển sản phẩm DL và nâng chất lượng dịch vụ, góp phần làm đa dạng sản phẩm DL phục vụ du khách. Công tác truyền thông, quảng bá xúc tiến DL được tăng cường. Tỉnh đưa vào vận hành Cổng thông tin DL thông minh, hướng đến xây dựng ngành DL chất lượng cao, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Đất Sen hồng... Dù công tác chỉ đạo, tổ chức các hoạt động DL từ đầu năm đến nay được thực hiện khẩn trương, tích cực, nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 lượng khách đến tham quan trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2019. Trong quý I/2020, toàn tỉnh uớc đón lượt khách trong đó có khách quốc tế, giảm 40% so với cùng kỳ 2019; tổng thu DL là 120 tỷ đồng, giảm 51% so với cùng kỳ lịch Kiên Giang chủ động phòng chống dịchChung tay cùng chính quyền nỗ lực phòng, chống dịch COVID-19, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Kiên Giang tạm ngưng hoạt động kinh doanh. Các điểm, khu du lịch, khu vui chơi, giải trí, các dịch vụ kèm theo ngành du lịch đóng cửa. Thời gian này, nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lịch lên kế hoạch kích cầu du lịch để áp dụng ngay khi hết dịch. Theo ngành chức năng tỉnh Kiên Giang, đến nay, tất cả các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử - văn hóa, khu vui chơi, giải trí, các tour, tuyến du lịch, các dịch vụ theo kèm phục vụ ngành du lịch như nhà hàng, quán bar, karaoke, massage… trên địa bàn tỉnh tạm dừng phục vụ. Đây là nỗ lực của chính quyền trong việc góp phần cùng Chính phủ kiềm chế và đẩy lùi dịch COVID-19. Các cơ sở lưu trú, doanh nghiệp du lịch tại các địa phương có thế mạnh du lịch như huyện Phú Quốc, TP. Hà Tiên và TP. Rạch Giá… đều chấp hành tốt chủ trương, chỉ thị của ngành chức năng. Trước cửa các cơ sở kinh doanh dịch vụ đều treo biển tạm dừng kinh doanh, chung tay chống dịch COVID-19. Các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ trên địa bàn cũng tạm dừng hoạt động, cho nhân viên tạm nghỉ và hỗ trợ lương cơ bản. Không chỉ tạm dừng kinh doanh chung tay cùng chính quyền chống dịch COVID-19, nhiều doanh nghiệp du lịch có nhiều hành động thiết thực chia sẻ khó khăn với ngành chức năng, địa phương trong công tác phòng, chống dịch. Tập đoàn CEO cùng các doanh nghiệp trong Hội Các nhà đầu tư Phú Quốc tài trợ 1,5 tỷ đồng để huyện Phú Quốc đưa vào vận hành máy xét nghiệm nhanh virus SARS-CoV-2. Ngoài ra, CEO tặng bộ đồ bảo hộ gồm găng tay, khẩu trang y tế cho huyện Phú Quốc. Dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, song nhiều doanh nghiệp du lịch đang nỗ lực chuẩn bị các kế hoạch ra mắt sản phẩm, dịch vụ mới, sẵn sàng cho công tác kích cầu khi dịch bệnh tạm lắng.
LỜI MỞ ĐẦUNgày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu cầu đầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thoả mãn về tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch. Do đó, du lịch là một trong những ngành có du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận. Du lịch là một ngành “công nghiệp không có ống khói”, mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới. Nhận thức được điều này, Đảng và nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế nghiên cứu về du lịch trở nên cấp thiết, nó giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về du lịch. Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lí luận và thực tiễn. Nó giúp du lịch Việt Nam đạt được những thành tựu mới, khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với tiềm năng của đất nước, nhanh chóng hội nhập với du lịch khu vực và thảo luận của nhóm em đề cập đến những nhận thức cơ bản về "Thực trạng, thuận lợi, khó khăn và giải pháp phát triển du lịch ở Việt Nam". Do sự hạn chế về kiến thức và thời gian nên không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của cô IKHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA DU LỊCH VIỆT NAM Khái quát về sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam trước khi hội nhập Lịch sử hình thành ngành du lịch Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5/6/1951. Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi du lịch trong nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958. Năm 1961 Nha Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương"với ba chí điểm Nha Trang, Đà Lạt và Vũng Tàu. Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố nâng đỡ kỹ nghệ du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974. Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09/7/1960. Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam. Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch. Ngày 25/12/2002 Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam. Quá trình phát triển ngành du lịch trước khi gia nhập WTO Từ năm 1960 đến 1975 Du lịch Việt Nam hoạt động chủ yếu là đón tiếp các đoàn khách của Đảng và Nhà nước phục vụ cho quan hệ hợp tác quốc tế, góp phần đấu tranh giải phóng miền Nam và xây dựng đất nước. Từ năm 1975 đến 1990 Ngành Du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn và phát triển các cơ sở Du lịch ở các tỉnh, thành phố vừa giải phóng; lần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở, thành lập các doanh nghiệp du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu. Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Du lịch .Trong giai đoạn này, du lịch đã góp phần tích cực tuyên truyền giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới và tổ chức cho nhân dân đi du lịch giao lưu hai miền Nam - Bắc, thiết thực góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc. Ngành Du lịch đã phát triển thêm một bước, hoạt động có kết quả tốt, đặt nền móng cho ngành Du lịch bước vào giai đoạn mới. Giai đoạn từ 1990 đến nay Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành Du lịch đã khởi sắc, vươn lên đôi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình. Năm 2001 đến 2007, tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do năng động, cố gắng vượt khó, chủ động áp dụng các biện pháp tháo gỡ táo bạo, kịp thời, nên lượng khách và thu nhập hàng năm vẫn tăng trưởng 2 con số. • Dưới đây là số liệu thống kê về một số chỉ tiêu trong du lịch trong giai đoạn từ 1990 đến 2006* Năm 1990 cả nước chỉ có 350 cơ sở lưu trú du lịch với buồng, thu nhập xã hội từ du lịch mới đạt tỷ đồng, chỉ đón hơn lượt khách quốc tế, cả khách quốc tế và nội địa là *Giai đoạn từ 1995 đến 2003 lượng khách quốc tế đến Việt Nam du lịch tăng từ lên lượt khách. * N ăm 2004 Trong tháng 12 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng lượt người. Cả năm 2004, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt lượt người, tăng 20,5% so năm 2003. * Năm 2005 Trong tháng 12/2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Trong cả năm 2005 lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt lượt, tăng 18,4% so với năm 2004. * Năm 2006 Trong tháng 12/2006 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Tổng cộng trong 12 tháng lượng khách quốc tế ước đạt lượt, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2005. Lượng khách du lịch bao gồm của khách quốc tế và nội địa tăng không ngừng từ khách quốc tế năm 1990 lên hơn 3,58 triệu lượt khách vào năm 2006. Thu nhập từ du lịch năm 1990 đạt 13 ngàn tỷ đồng, đến năm 2006, thu nhập từ du lịch đạt 51 nghìn tỷ đồng.• Khẩu hiệu ngành du lịch2001-2004 Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới2004-2005 Hãy đến với Việt Nam2006 - nay Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm Sự phát triển du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều lĩnh vực kinh tế khác và những thuận lợi khi Việt Nam gia nhập WTO thì ngành du lịch Việt nam đã khởi sắc và ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Số doanh nghiệp du lịch tăng đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đã phát huy được hiệu quả tích cực góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch.• Sự phát triển đó được thể hiện dựa trên các số liệu về lượng du khách, doanh thu và các hoạt động về du lịch mà Việt Nam đã tổ chức được.*Năm 2007 Nước ta lần đầu tiên đạt 4,23 triệu lượt khách quốc tế. GDP du lịch chiếm khoảng 4% GDP cả nước theo cách tính của WTO thì con số này là 9%. Trong tháng 12/2007 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Tổng cộng trong cả năm lượng khách quốc tế ước đạt lượt, tăng 16,0% so với năm 2006. Du lịc nước Ta trong năm này đã có 10 sự kiện tiêu biểu• Thành công của Năm du lịch quốc gia "Về thủ đô gió ngàn - Chiến khu Việt Bắc"• Ngành du lịch đón vị khách quốc tế thứ 4 triệu• Quảng bá du lịch Việt Nam trên kênh truyền hình quốc tế CNN• Tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Du lịch VN - Lào - Campuchia và Hội chợ Du lịch chủ đề "3 quốc gia, 1 điểm đến"• Chương trình vận động bầu chọn cho vịnh Hạ Long• Khảo sát xây dựng sản phẩm, các tour du lịch mới• Festival hoa Đà Lạt thành công• Bùng nổ các dự án đầu tư FDI vào du lịch• Mười năm hoạt động của trang web ngành• Khách du lịch đến miền Trung tăng trưởng cao.* Năm 2008Trong tháng 12/2008 lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt. Tổng cộng trong cả năm 2008 lượng khách quốc tế ước đạt lượt, tăng 0,6% so với năm sự kiện tiêu biểu năm 2008 là • Năm du lịch miệt vườn Sự kiện chủ đạo, xuyên suốt về du lịch năm 2008 là Du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long. Đến với Cần Thơ, du khách thăm vùng châu thổ trù phú, sông rạch chằng chịt với hệ sinh thái đa dạng, những di tích văn hóa phong phú của cộng đồng dân tộc Hoa, Khmer, Chăm. • Du lịch về cội nguồn Đây là năm thứ tư, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai phối hợp tổ chức du lịch về cội nguồn, quảng bá các sự kiện văn hóa du lịch độc đáo của vùng. • Festival Huế 2008• Bầu chọn Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới. • Bắn pháo hoa quốc tế dọc hai bên bờ sông Hàn vào thời điểm TP Đà Nẵng tổ chức các lễ hội như Liên hoan Văn hóa Du lịch biển, lễ hội "Gặp gỡ Bà Nà"... • Thi hoa hậu du lịch 2008• Hoa hậu Hoàn vũ quốc tế tại thành phố Nha • Diễn đàn du lịch các nước ASEAN và TRAVEX 2009 Đây là sự kiện thường niên về du lịch có uy tín và quy mô lớn nhất trong khu vực. *Năm 2009 Trong tháng 12, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 376,400 lượt. Tính chung cả năm 2009, lượng khách quốc tế ước đạt lượt, giảm 10,9% so với năm hoạt động du lịch tiêu biểu năm 2009 là• Diễn đàn Du lịch ASEAN 2009 ATF-09. Chương trình kích cầu du lịch "Ấn tượng Việt Nam". • 10. Vịnh Hạ Long vào vòng chung kết Cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Vịnh Lăng Cô Thừa Thiên - Huế được công nhận và xếp hạng vịnh đẹp thế giới.• Năm Du lịch Tây Nguyên với chương trình Lễ hội Festival hoa Đà Lạt năm 2009.• Lễ hội cồng chiêng Gia Lai• Lễ hội cà phê Đắc Lắc lần thứ 2• Lễ hội Rượu trắng Đắk Nông; Cuộc thi pháo hoa Quốc tế tại Đà Nẵng• Lễ hội biển Nha Trang• Những ngày văn hóa du lịch Mê Công - Nhật Bản ở Cần Thơ• Đại hội Thể thao trong nhà châu Á lần thứ 3• Hội chợ thực phẩm và khách sạn TP Hồ Chí Minh• Chương trình "3 nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia - một điểm đến" tại TP Hồ Chí Minh.* Tính đến tháng 8/ 2010 Lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt lượt, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung 8 tháng năm 2010 ước đạt lượt, tăng 35,2% so với cùng kỳ năm 2009.• Năm 2010 cũng diễn ra nhiều sự kiện quan trọng Sự kiện "Năm Hà Nội", Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội• Festival Huế• Cuộc thi Hoa hậu Thế giới tại Nha Trang• Liên hoan phim quốc tế• Liên hoan múa rối và xiếc quốc tế Thu nhập từ du lịch năm 1990 đạt 13 ngàn tỷ đồng, đến năm 2009, thu nhập từ du lịch tăng từ 6,5 đến 9% so với năm 2008, đạt từ đến tỉ đồng. Tổng cục Du lịch dự kiến, trong năm 2010, ngành du lịch cả nước sẽ đón khoảng từ 4,5 đến 4,6 triệu lượt khách quốc tế, tăng từ 18 đến 21% so với năm 2009; Lượng khách nội địa trong năm 2010 sẽ đạt khoảng 28 triệu lượt khách. Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ngày càng phát triển và đa dạng các loại hình. Đến nay, cả nước có cơ sở lưu trú du lịch với tổng số buồng, tăng 25 lần so với năm 1990 với tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,6%/năm trong khi đó trên phạm vi toàn thế giới tốc độ tăng cơ sở lưu trú du lịch bình quân 3% . Cùng với sự phát triển về số lượng, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch Việt đã có những chuyển biến mạnh về chất lượng. Đến nay, cả nước đã có tổng số cơ sở lưu trú du lịch được xếp từ hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh LTDL đến hạng 5 sao, cụ thể 25 khách sạn 5 sao với buồng, 69 khách sạn 4 sao với buồng, 144 khách sạn 3 sao với buồng, 590 khách sạn 2 sao với buồng, 632 khách sạn 1 sao với buồng và khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với buồng Toàn ngành du lịch hiện có lao động trực tiếp trong đó lao động làm việc trong trong hệ thống cơ sở lưu trú du lịch là IINHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DU LỊCH VIỆT NAM HỘI NHẬP THẾ Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạngViệt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, vừa có biên giới lục địa, vừa có hải giới rộng lớn, là cửa ngõ đi ra Thái Bình Dương của một số nước và của vùng Đông Nam Á. Nước ta nằm ở vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, đúng vào khu vực gió mùa Đông Nam Á, do đó, mang lại đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Châu Á. Nhờ đó mà Việt Nam có hệ thống động thực vật phong phú, đa dạng. Việt Nam còn có những danh thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bảng ngoài ra còn có di sản văn hoá thế giới phi vật thể là nhã nhạc Huế. Chúng ta còn thu hút du khách nước ngoài bằng hàng loạt các điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền tổ quốc Bản Gốc, Mẫu Sơn, Sa Pa, Thác Mơ, hồ Ba Bể, vườn quốc gia Ba Vì, Mai Châu, Tam Cốc- Bích Động, Cát Tiên, khu ngập nước Văn Long, Bà Nà, Đồng Tháp Mười, địa đạo Củ Chi, U Minh… Hiện nay, du lịch sinh thái đang được nhiều du khách quan tâm nên đây là điều kiện tốt để du lịch Việt Nam khai thác tiềm năng sẵn có. Mặt khác lãnh thổ nước ta kéo dài từ Bắc vào Nam tiếp giáp với biển cũng tạo cho chúng ta những bãi biển cát mịn và đẹp như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu…Ngoài những thắnh cảnh tươi đẹp, Việt Nam còn có rất nhiều các làng nghề, lễ hội truyên thống. Tiềm năng phát triển du lịch làng nghề truyền thống của nước ta rất lớn, mỗi làng nghề gắn với một vùng văn hoá, hệ thống di tích và truyền thống riêng, với cung cách sáng tạo sản phẩm riêng của mình. Du khảo hết các làng nghề truyền thống, du khách có thể thấy rõ bản sắc cũng như đặc trưng của bộ mặt nông thôn Việt Nam. Hiện nay, cả nước đã có hơn2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm nghề chính như cói, sơn mài, mây tre đan, gốm sứ, thêu ren, dệt, gỗ, đá, giấy, tranh dân gian. Đi dọc Việt Nam du khách có thể thấy nhiều vùng quê mà mật độ làng nghề truyền thống dày đặc rải từ bắc vào nam. Những cái nôi của làng nghề là Hà Nôi, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế… Thực tế, hiện nay du khách muốn đến tận làng nghề nhìn cảnh cây đa, bến nước, sân đình, thăm các di tích của một làng nghề truyền thống Việt Nam, tìm hiểu các vị tổ làng nghề hoặc các danh nhân văn hoá. Làng nghề truyền thống Việt Nam chứa đựng tiềmnăng dồi dào về du lịch còn bởi vì du khách muốn đến tận nơi xem các công đoạn nghệ nhân làm ra sản phẩm và cũng muốn tận tay tham gia làm sản phẩm theo trí tưởng tượng của riêng mình. Tìm hiểu về văn hoá và truyền thống làng nghề là điều mà du khách trong và ngoài nước quan Nam còn có các tài nguyên có giá trị lịch sử, các tài nguyên có giá trị văn hoá thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Với lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tạo dựng được một nền văn hoá phong phú và độc đáo. Không những vậy 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên một mảnh đất, lại có bao phong tục, tập quán, lễ hội khác nhau tạo nên sự đa dạng cho sản phẩm du lịch Việt những năm gần đây, Việt Nam đã và đang xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ. Đặc biệt con người Việt Nam thân thiện, hiếu khách đã tạo sự thoải mái cho tất cả những tiềm năng trên là một nền tảng để du lịch Việt Nam phát triển, hội nhập với các nước trên thế giới. Nhưng vấn đề là chúng ta tận dụng những tiềm năng đó như thế nào nó phụ thuộc vào cách làm của chúng Chính sách khuyến khích phát triển du lịch của Nhà nước Những năm gần đây du lịch đã được nhà nước chú trọng phát triển bởi tiềm năng lợi ích mà du lich mang lại là rất Giao thông thuận tiện giúp du khách thuận tiện đi lại và giảm chi phí đi lại, nhiều công trình như đường hầm, cáp treo .. được xây Các di tích, di sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển được tôn tạo, bảo tồn và phát Nhiều khu vui chơi, giải trí được xây dựng tại các địa điểm du lich hấp Có chính sách phát triển du lịch cho từng địa Tổ chức các sự kiện , các chương trình lớn kích cầu về du lịch. - Mở trường , mở khoa đào tạo về khách sạn du Tạo dựng hình ảnh , quảng bá văn hóa , thắng cảnh của Việt Nam ra thế giới nhằm thu hút khách quốc Thị trường du lịch ngày càng được mở rộng Đời sống của nhân dân hiện nay ngày càng được nâng cao vì thế nhu cầu về du lịch ngày càng nhiều, hơn thế nhận thức của người dân cũng cao hơn, mong muốn có sức khỏe tốt, muốn khám phá thế giới, vui chơi giải trí. Cuộc sống thành thị ồn ào, ngột ngạt, căng thẳng cũng khiến con người ta có nhu cầu tìm đến những nơi trong lành, thoải mái, yên tĩnh... Việc quảng bá hình ảnh Việt Nam cũng tạo thuận lợi cho việc chúng ta khai thác thị trường ngoài nước góp phần tăng nguồn ngoại tệ và phát triển thương hiệu du lich Việt Nam. Các loại hình du lịch ngày càng đa dạng hóa và phát triển trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng với những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng. Bên cạnh đó, lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của cha ông đã để lại cho chúng ta những di tích lịch sử- văn hóa quý giá. Bởi vậy loại hình du lịch đã và đang phát triển đầu tiên phải kể đến là* Tham quan di tích - thắng cảnh như Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, đền Ngọc Sơn, và hồ Hoàn Kiếm, chùa Trấn Quốc và Hồ Tây…* Du lịch lễ hội Festival Huế, hội chùa Hương, hội Lim…Du lịch phố cổ Hội An, Hà Nội, phố Hiến - Hưng Yên…* Du lịch sinh thái Nhà vườn Huế, bãi biển Lăng Cô, rừng Cúc Phương, hồ Ba Bể…* Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh tắm nước khoáng Kim Bôi - Hòa Bình, nhà nghỉ ở Phan Thiết, Nha Trang, châm cứu ở Hà Nội…* Du lịch MICE, tức là loại hình du lịch theo dạng gặp gỡ xúc tiến, hội nghị, hội thảo, du lịch chuyên đề ở Vũng Tàu, Đà Nắng…* Du lịch dựa vào cộng đồng vì người nghèo nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo như ở Hà Nội, Lào Cai, Sa Pa…* Du lịch hoa ở Đà Lạt, Hà Nội, TPHCM…* Tham quan các trại điêu khắc ở Huế, Đà Nẵng, Phú Thọ…* Du lịch bụi bằng xe đạp, xe máy, ô tô buýt, xích lô ở Hà Nội, xe trâu ở làng gốm Bát Tràng, cưỡi ngựa ở Lâm Đồng, cưỡi voi ở Tây Nguyên, du thuyền trên sông Hồng, sông Cửu Long…* Du lịch cuối tuần ở TPHCM, Hà Tây, Vũng Tàu…* Du lịch tuần trăng mật ở Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo…* Du lịch tham quan các bảo tàng ở các thành phố lớn. * Du lịch làng nghề gốm Bát Tràng, tơ lụa Vạn Phúc - Hà Đông…* Du lịch mua sắm bắt đầu phát triển ở TPHCM, Hà Nội, Huế…* Du lịch ẩm thực tiệc cung đình Huế hay ẩm thực Hà Nội. * Du lịch mạo hiểm lặn biển ở Nha Trang, leo núi Tây Bắc, xuyên rừng Cúc Phương…* Du lịch thể thao dù lượn ở Nha Trang, Tuần Châu, sân gôn Đồng Mô…Với sự đa dạng về loại hình du lịch ngành du lịch Việt Nam đã phát triển vượt bậc cũng có nghĩa đã đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu du lịch của khách trong nước cũng như khách quốc KHÓ KHĂN Khó khăn trong quy hoạch Được coi là điểm sáng của năm 2005 tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức cao trên 20%, thu hút hơn 3,4 triệu khách quốc tế và 16 triệu khách nội địa. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam vẫn còn nhỏ bé.“Hiện chúng ta đang thiếu các điểm du lịch quy mô, “ra tấm ra miếng”. Thực trạng đầu tư manh mún, nhỏ lẻ, chạy theo số lượng mà không chú ý đến tính chuyên nghiệp” - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Phạm Từ thừa nhận, “một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do qui hoạch du lịch tổng thể, chi tiết từng vùng chưa được thực hiện tốt”.Vấn đề đặt ra là nêu chúng ta không có biện pháp quy hoạch ngay thì liệu một thời gian nữa còn có chỗ mà quy hoạch không và du lịch có thật sự được phát triển . Khủng hoảng kinh tế, kinh tế suy thoái, dịch bệnh, thiên 2009, khủng hoảng kinh tế toàn cầu điều đó ảnh hưởng rấ lớn tới các nước lớn, chi tiêu của người dân hạn hẹp vì thế mà lượng khách nước ngoài đến Việt Nam giảm sút, khách du lịch trong nước cũng theo đà giảm theo. Điều đó khẳng định tình hình kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của du lịch Hơn thế nữa, cùng với sự nóng lên của trái đất làm cho dịch bệnh và thiên tai hoành hành ở nhiều nơi không những làm hư hại tài nguyên du lịch mà còn hạn chế lượng khách du lịch tơi các nơi thiên tai, dịch bệnh do e ngại về sự an toàn và sức khỏe của họ. Ý thức người dân và việc bảo vệ môi trường Hiện nay có một tình trạng là khách du lịch đi đến các điểm du lịch xả rác bừa bãi gây mất cảnh quan và ô nhiễm môi trường, trước tình hình đó ngành du lịch phải có biện pháp cụ thể để ngăn chặn nếu không sẽ để lại hình ảnh xấu trong mắt khách du lịch quốc tế và ảnh hưởng tới môi trường sống .- Vấn đề nữa là người dân chưa có ý thức bảo vệ tại nguyên du lịch, chưa nhận biết tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên du lịch, khiến việc tu sửa, bảo tồn, phát triển gặp khó khăn. Tài nguyên và môi trường đang có sự suy giảm do khai thác, sử dụng thiếu hợp lý và những tác động của thiên thai ngày càng tăng và diễn ra ở nhiều vùng, nhiều địa phương trong Nhiều tài nguyên có tiềm năng khai thác nhưng do bị mai một, lãng quên, và bị hủy hoại nên vẫn bỏ Nhân lực cho ngành du lịch chưa đạt yêu cầuViệc gia tăng lượng khách du lich hàng năm là một dấu hiệu đáng mừng, nhưng cũng không đủ cầu và cung như thế nào để thỏa mãn nhu cầu của cầu là một vấn đề đặt ra cho ngành du lịch, bởi đội ngũ nhân lực cho ngành du lịch còn đang thiếu và yếu về chuyên môn, yếu về ngoại ngữ. Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đào tạo được đội ngũ nhân viên du lịch lái xe, tiếp viên, hướng dẫn viên… có nghiệp vụ, có văn hoá, biết ngoại ngữ đủ để đáp ứng yêu cầu của thị trường đang ngày càng tăng. Hoạt động du lịch ngày càng đa dạng hoá về sản phẩm du lịch, loại hình du lịch và chất lượng các sản phẩm du lịch. Điều này đòi hỏi đội ngũ lao động phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ. Những người làm công tác quản lý trong ngành du lịch có trình độ không đồng đều, một số chưa qua đào tạo về quản lý doanh nghiệp du lịch. Tuy tiềm năng du lịch rất lớn nhưng hệ thống cơ sở đào tạo du lịch còn quá ít. Trong khi nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu thì sự sắp xếp bộ máy cán bộ không hợp lý, rườm rà gây ra lãng phí rất nhiều nhân lực. Do đó, kiện toàn sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là một đòi hỏi cần phải giải quyết ngay. Cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo mới ở các trường và đào tạo lại, bồi dưỡng ở các cơ quan, doanh nghiệp, mặc dù đã được đầu tư xây dựng, trang bị mới và nâng cấp nhưng vẫn thiếu, không đồng bộ, nhất là ở các cơ sở đào tạo mới tham gia vào đào tạo du lịch. Đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch hạn chế về số lượng, chất lượng. Đặc biệt, thiếu giáo viên tay nghề cao. Số giảng viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ không nhiều. Phương pháp đào tạo nặng về lý thuyết, độc thoại. Lực lượng giáo viên cơ hữu mỏng và rất khác nhau giữa các trường. Các trường ngoài công lập và trường mới thành lập có mở ngành du lịch tỷ lệ giáo viên cơ hữu rất thấp, thường dưới 50% . Công tác marketing chưa được triển khai toàn diện Hoạt động Marketing cho ngành du lịch bao gồm rất nhiều hoạt động từ xúc tiến quảng cáo ở nước ngoài cho tới thu thập thông tin về các thị trường và khách hàng tiềm năng và hiện tại, thúc đẩy từng loại hình và dịch vụ du lịch. Chúng ta chưa đầu tư đầy đủ vào hoạt động marketing giới thiệu về Việt Nam như một điểm đến của du lịch ở nước ngoài và vẫn chưa có được một chiến lược để khai thác tối đa tiềm năng du lịch của Việt Nam. Mặc dù có các chương trình khuyếch chương ở trong nước nhưng các chương trình này không giúp thu hút được được khách du lịch mới đến Việt nam vì chúng hướng vào những khách du lịch đang ở Việt Nam rồi. Hơn nữa, hoạt động xúc tiến quảng cáo ở Việt Nam
phát triển ngành du lịch cho phép